Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Những “thủ phạm” khiến viêm xoang tái phát

Người bệnh xoang rất nhạy cảm với các tác động của nhiệt độ và độ ẩm trong không khí. Những trường hợp nóng – lạnh đột ngột làm tổn thương miên mạc mũi cho người viêm xoang.


Môi trường bất lợi
Môi trường bất lợi
Theo các bác sĩ chuyên khoa, người bệnh xoang rất nhạy cảm với các tác động của nhiệt độ và độ ẩm trong không khí. Những trường hợp nóng – lạnh đột ngột là một tác nhân rất bất lợi làm tổn thương miên mạc mũi cho người có tiền sử viêm xoang.
Vì vậy, để tránh bệnh tái phát, người bệnh cần luôn luôn giữ ấm vùng mặt và mũi khi trời lạnh và trời mưa. Đối với những bệnh nhân làm việc hoặc sinh hoạt trong môi trường có điều hòa thì cần tránh để mũi đối diện trực tiếp với luồng gió của điều hòa, nên để nhiệt độ trong phòng khoảng 26 độ và có máy phun hơi hoặc một chậu nước để tạo độ ẩm.
Không khí ô nhiễm cũng là một trong những yếu tố kích thích có hại cho xoang mũi, làm tăng khả năng tái phát bệnh. Vì vậy, người bệnh cần phải tránh tiếp xúc hoặc hạn chế tiếp xúc với các tác nhân ô nhiễm như khói thuốc lá, khói bụi, các chất hóa học và các dị nguyên gây dị ứng khác bằng cách đeo khẩu trang khi làm việc hoặc di chuyển.
Đặc biệt, người bệnh cần vệ sinh mũi hàng ngày bằng nước muối sinh lý để loại bỏ những dị nguyên xâm nhập vào mũi.
Những thói quen xấu trong ăn uống và sinh hoạt
Khi làm việc quá sức, lo lắng nhiều, căng thẳng, hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu sẽ rất dễ bị nhiễm trùng. Xoang mũi là cơ quan lọc không khí trước khi đưa vào cơ thể nên có nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất. Vì vậy, sự điều tiết các hoạt động khi làm việc và thể dục đúng mức sẽ giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh, cơ thể điều hòa, tránh bệnh xoang tái phát hiệu quả.
Người bệnh cũng cần có một chế độ ăn khoa học, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Trong đó, nước, rau xanh và trái cây là những thực phẩm rất tốt cho người bệnh xoang. Uống nhiều nước sẽ làm miên dịch loãng hơn giúp sự dẫn lưu của mũi xoang tốt hơn, tránh được sự ứ đọng bụi bẩn và vi khuẩn. Còn trái cây và rau xanh lại cung cấp cho cơ thể nhiều chất chống oxy hóa và vitamin, giúp hệ miễn dịch của cơ thể khỏe mạnh.
Ngoài ra, người bệnh nên tránh các thực phẩm hoặc đồ uống làm mềm miên mạc mũi xoang gây phù nề khiến xoang dễ tái lại như bia, rượu, thuốc lá, đồ lạnh, đồ cay, đồ nóng….
Bên cạnh đó, để tránh tái phát hiệu quả, người bệnh xoang có thể sử dụng các loại thuốc Nam được bào chế từ các thảo dược như tân di, bạch chỉ, phòng phong, thăng ma…. với liều phòng ngừa và khoảng cách mỗi đợt uống là từ 3-4 tháng.
Đặc biệt, khi bị cảm cúm, cảm lạnh, dị ứng…, nên tích cực điều trị các triệu chứng ngạt mũi, sổ mũi… của các bệnh này nhằm tránh xoang mũi tái phát do bội nhiễm bằng các loại thuốc xịt mũi và thuốc uống đặc trị. Để an toàn và tránh các tác dụng không mong muốn, người bệnh nên sử dụng các loại thuốc xịt có thành phần từ các loại thảo dược như tân di hoa, thương nhĩ tử hoặc ngũ sắc.
Ngoài ra, người bệnh phải xì mũi thường xuyên, tránh để có dịch nhầy trong mũi gây nhiễm khuẩn và không ngoáy mũi làm tổn thương miên mạc mũi, vỡ mạch máu, chảy máu mũi.

Tại sao trẻ lại ho khan?

Nhiều cha mẹ thường đưa trẻ đi đến bệnh viện khám họng vì trẻ bị khó chịu, ngứa, bị tắc ở họng. Tại sao trẻ bị như vậy.

Bệnh húng hắng ho khan ở cổ họng thường xuất hiện ở trẻ trước tuổi đi học hoặc đang học tiểu học. Chứng bệnh nay không phát sinh khi trẻ đang tập trung tư tưởng nhưng khi nghe kể chuyện, nghe giảng bài, xem phim, ăn cơm hay ngủ mà chỉ xuất hiện khi trẻ không làm gì.
Điều này khiến cho các bậc cha mẹ lo lắng, cho rằng họng trẻ đang có vấn đề. Khám kỹ, các bác sĩ thấy có thể trẻ bị sưng amiđan, tuyến limpha ở cuống họng phát triển mạnh, có thể bị viêm mũi mãn tính, có thể bị viêm xong mũi…
Vậy bệnh này phát sinh như thế nào? Xét kỹ tiền sử mắc bệnh, hầu hết tất các trẻ mắc bệnh đều đã từng bị viêm họng mãn tính, viêm amiđan hoặc nhiễm trùng đường hô hấp trên. Khi đó, trẻ thường sốt, đau họng, tắc họng, ho… Sau khi bệnh viêm đã chữa khỏi, trẻ có thói quen xấu là hay ho khan. Tất nhiên, cũng có một số trẻ ho khan do nước mũi chảy vào họng khi chúng bị viêm xoang.

 Ảnh minh họa
Nhiều trẻ thường hay bị ho khan. Ảnh minh họa.


Thế nào là ho khan?

Ho khan thường gây ngứa họng và không có đờm nếu ho kéo dài có thể gây khàn giọng hoặc mất giọng. Có rất nhiều nguyên nhân gây ho khan có thể là do dị ứng với môi trường như: hít phải những mẩu vụn thực phẩm, các loại khói bụi gây kích thích ( khói thuốc, khói than, mùi hóa chất) hoặc có thể phản ứng của cơ thể khi thời tiết thay đổi đột ngột. Bên cạnh đó, ho khan có thể là do tình trạng mới nhiễm virus, do cúm hay cảm lạnh, hen phế quản, trào ngược dạ dày, thực quản, ….

Với bệnh nhân ho khan do các nguyên nhân dị ứng với môi trường thường vẫn cảm thấy khỏe mạnh, không có cảm giác nặng ngực và khó thở. Với trường hợp bệnh nhân ho do nhiễm virut, cảm lạnh, hen phế quản… bệnh nhân ho khan nếu không được điều trị ho sẽ có cảm giác tức ngực và cơn ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân nghẹt thở và khó thở, mệt lả. Vì vậy, để biết chính xác nguyên nhân ho và có phương pháp điều trị thích hợp, chị cần đến cơ sở y tế để khám.

Ngoài ra, cần uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô có các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, về đêm trời lạnh cần giữ ấm cổ, ngực. Ăn hoa quả, uống nước cam,… để nâng cao sức đề kháng.

Phương pháp điều trị:Điều trị tích cực cho trẻ bị viêm xoang mũi và viêm mũi mãn tính. Còn những trẻ bình thường cần nghiêm khắc nhắc nhở chúng hiểu ho khan là thói quen xấu, họng trẻ không có vấn đề gì. Tất nhiên, đôi khi cũng cần dùng thuốc nhỏ mũi, viên ngậm.. để điều trị hỗ trợ.

Khí công hỗ trợ điều trị hen suyễn

Tập khí công hỗ trợ điều trị bệnh hen suyễn nhờ làm sạch chất nhầy, cải thiện chức năng hô hấp.


Tập khí công giúp hỗ trợ điều trị  bệnh hen suyễn. Ảnh minh họa: internet
BS Lê Văn Vĩnh - Huấn luyện viên Câu lạc bộ Khí công TP.HCM cho biết, theo Tây y, hen là tình trạng các phế quản bị hẹp do viêm nhiễm mạn tính, không khí qua đó trở nên khó khăn vì sự co thắt của các cơ ở thành phế quản, sưng và phù nề lớp niêm mạc của phế quản, tiết nhiều chất nhầy vào trong lòng các phế quản. Còn theo Đông y, hen là do cơ thể bị nội nhiệt hay ngoại nhiệt; cơ thể suy nhược.
Những bệnh nhân kiểm soát cơn hen kém, sau khi vận động thể lực có thể làm tái phát cơn hen. Triệu chứng gồm ho, khò khè, thở ngắn, đau ngực, mệt.
Tế bào mastocyte có vai trò quan trọng trong cơ chế dị ứng, nằm sâu trong niêm mạc mũi, kết mạc, cạnh các mạch máu và tế bào sản sinh ra dịch nhầy. Khi gắng sức, tế bào mastocyte bị vỡ, giải phóng hàng loạt các chất trung gian gây co thắt phế quản, gây phù nề các mô ở đường hô hấp và làm cho khó thở. 
Để phòng ngừa cơn hen suyễn khi vận động, người tập nên chọn những môn thật nhẹ nhàng như đi bộ, khí công, thể dục nhịp điệu... Trong đó, khí công được xem là một môn có thể chữa khỏi bệnh nếu bệnh nhân biết vận dụng vừa luyện tập, vừa điều trị.
Lý giải vì sao khí công có thể chữa được bệnh hen suyễn, BS Lê Văn Vĩnh cho biết, hô hấp đóng vai trò quan trọng trong khí công. Hít thở trong khí công không giống thở bình thường (hít oxy, thải khí cacbonic) mà là điều hòa, phát huy và tích lũy hai loại khí nói trên thành chân khí để theo các kinh mạch đi nuôi cơ thể, có tác dụng chữa bệnh một cách kỳ diệu.
Tập khí công sẽ giúp kiểm soát nhịp thở, giúp quân bình âm dương hệ thực vật, làm cơ thể thích nghi môi trường và làm hưng phấn thần kinh đối giao cảm... nên dù có chất dị ứng (các yếu tố gây hen) cũng không thể kích thích thần kinh phế vị, không gây hen suyễn. Ngoài ra, thở trong khí công chủ yếu là thở bụng, làm máu dồn vào vùng bụng và lưng, cơ hoành ở vùng này cũng chuyển động liên tục làm gia tăng lưu thông khí ở phổi.
Cách thở trong khí công: hít vào bằng mũi, phình bụng, thở ra bằng mũi, hóp bụng lại, lưỡi đặt trên vòm họng suốt hai kỳ thở với tiêu chuẩn chậm, nhẹ, sâu, dài, tự nhiên.
“Hiện trên thị trường có nhiều loại sách, đĩa hướng dẫn tập khí công. Sẽ rất nguy hiểm và gây ra nhiều tác dụng phụ nếu tự luyện tập, bởi khí công là sự kết hợp giữa động tác và hơi thở. Người tập trước tiên phải thuần thục động tác thì mới có thể kết hợp với hơi thở. Trong giai đoạn đầu đến giai đoạn trung cấp (ba năm), phải có chuyên gia hướng dẫn cả lý thuyết và thực hành. Riêng những người bị hen suyễn, cần phải có ý kiến của BS chuyên môn và hướng dẫn của chuyên gia” - BS Lê Văn Vĩnh khuyến cáo.

Cần làm gì khi ho kéo dài?

Bên cạnh việc chữa bệnh chính là nguyên nhân gây ho, đôi khi bác sĩ cũng dùng thuốc ho hay thuốc long đàm.


Ho là phản xạ bảo vệ cơ thể, xảy ra đột ngột và lặp đi lặp lại nhằm làm sạch đường thở khỏi bị ứ đọng các dịch tiết, các chất kích thích, vật lạ… Có nhiều nguyên nhân gây ho và thường tùy thuộc vào thời gian xuất hiện triệu chứng.
Nguyên nhân và biến chứng
Đối với ho cấp tính, có thể có nguyên nhân hoàn toàn khác với ho mạn tính và trong ho mạn tính có đến 25% trường hợp có ít nhất 2 nguyên nhân gây ho trên cùng một người bệnh. Khi ho trên 3 tuần được gọi là ho kéo dài. Ho cấp tính (ho dưới 3 tuần): Nguyên nhân hay gặp nhất là cảm cúm, viêm xoang cấp, ho gà, đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm mũi dị ứng hay không do dị ứng… 
Ho bán cấp (ho từ 3 - 8 tuần) thường do nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm xoang, hen phế quản... Còn với ho mạn tính (ho trên 8 tuần) có thể do những nguyên nhân như chảy dịch mũi sau, hen phế quản, trào ngược dạ dày thực quản, viêm phế quản mạn, giãn phế quản, dùng thuốc ức chế men chuyển điều trị tăng huyết áp, lao phổi, ung thư phổi, hút thuốc lá… 
Khảo sát lồng ngực bằng phim X-quang Ảnh: V.H
Khảo sát lồng ngực bằng phim X-quang. Ảnh: V.H
Ho là triệu chứng có thể điều trị khỏi với tỉ lệ khá cao lên đến 85%. Tuy nhiên, đôi khi ho có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng cho cơ thể. Về toàn thân: Ho gây mất ngủ, mệt mỏi, biếng ăn, suy sụp tinh thần… Đối với tai mũi họng: Ho gây kích thích, tổn thương thanh quản làm đổi giọng, co thắt thanh quản… Đối với phổi: Ho gây vỡ phế nang, tràn khí trung thất, tràn khí màng phổi… 
Còn với tim mạch, ho gây cơn tăng huyết áp, vỡ mạch máu kết mạc mắt, niêm mạc mũi. Riêng về tiêu hóa, ho gây nôn ói, thoát vị bẹn, rốn… Đặc biệt với thần kinh, ho sẽ gây chóng mặt, ngất. Ngoài ra, ho còn có thể dẫn đến sinh non, sa sinh dục, són tiểu, són phân. Ở người bị loãng xương nặng có thể gãy xương sườn, người đang dùng thuốc chống đông có thể bị tụ máu thành bụng…
Lưu ý khi dùng thuốc ho
Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh nên điều trị nguyên nhân gây ho thì triệu chứng này sẽ biến mất. Trong trường hợp ho cấp tính do cảm cúm, chỉ cần điều trị triệu chứng, bệnh cũng dần tự khỏi. 
Tuy nhiên, khi ho nếu thấy có kèm theo bất kỳ một trong những triệu chứng sau, bạn cần đi khám bệnh: Đó là ho có đàm xanh, vàng hay nâu gỉ; ho ra máu; ho có mủ mùi hôi thối; ho có kèm theo đau ngực, ho khò khè, khó thở, có triệu chứng phù 2 chân; ho thường lặp đi lặp lại vào ban đêm, sụt cân đột ngột, sốt, vã mồ hôi; khản tiếng ở người ho mạn tính…
Để điều trị chứng ho, bên cạnh việc chữa bệnh chính là nguyên nhân gây ho, đôi khi bác sĩ cũng dùng thuốc ho hay thuốc long đàm. Thuốc ho có tác dụng làm giảm ho, chỉ dùng trong trường hợp ho khan, kích thích gây khó chịu. Trong trường hợp ho có đàm, bác sĩ sẽ dùng thuốc làm loãng đàm hay tan đàm. 
Tuy thuốc ho là loại dược phẩm được bán không cần toa nhưng việc sử dụng cần thận trọng và tuân thủ một số nguyên tắc sau: Thuốc ho không thể thay thế thuốc điều trị bệnh chính gây ho, trái lại, có thể che lấp triệu chứng của bệnh. Vì vậy, chỉ dùng khi thật sự  cần, như ho nhiều làm khó chịu hay có nguy cơ gây biến chứng. 
Thận trọng khi dùng thuốc ho cho trẻ nhỏ, phụ nữ có thai, cho con bú, người già, lái xe hay vận hành máy móc. Với trẻ nhỏ, nên dùng muỗng lường có kèm theo chai thuốc để tránh việc dùng quá liều. Không nên cho trẻ vừa dùng thuốc ho vừa thuốc cảm vì 2 loại thuốc trên có thể chứa cùng hoạt chất có thể gây ngộ độc thuốc.
Thuốc ho chỉ dùng cho trường hợp ho khan, không dùng cho người ho có đàm và có triệu chứng suy hô hấp. Nên dùng liều thấp nhất có tác dụng và trong thời gian càng ngắn càng tốt để hạn chế tác dụng phụ của thuốc. Không dùng thuốc ho kết hợp thuốc long đàm vì đàm sẽ tiết nhiều hơn nhưng không khạc ra được. Không dùng thuốc ho quá 5 ngày, nếu còn tiếp tục ho đừng tự ý tăng liều, đừng dùng thêm một loại thuốc ho khác hoặc đổi thuốc ho mà  tốt nhất là cần đi khám bệnh. 
Không dùng thuốc tan đàm vào buổi tối
Thuốc làm loãng đàm và tan đàm không nên dùng vào buổi tối vì khi ngủ hoạt động của nhung mao ở niêm mạc phế quản sẽ giảm, dễ gây ứ đọng đàm trong phổi.

Bệnh viêm phổi ở người cao tuổi nguyên nhân và phòng tránh

Những người mắc bệnh viêm phổi thường khó thở hoặc thở nhanh kèm theo tiếng kêu khè khè.

Một số phương pháp dùng để chẩn đoán bệnh như chụp X quang ngực, thử đờm để phát hiện ra sinh vật gây bệnh, sử dụng kĩ thuật thử test CBC để kiểm tra số lượng tế bào máu trắng, nếu cao là bị bệnh do vi khuẩn.
1. Định nghĩa bệnh viêm phổi
Bệnh viêm phổi (Pneumonia) hay còn có tên gọi khác là bệnh viêm phổi mang tính tiếp xúc cộng đồng mắc phải (Community-Acquired Pneumonia); bệnh viêm phổi khu trú hay viêm phế quản-phổi (Broncho Pneumonia).
Đây là căn bệnh viêm nhiễm gây nên bởi các loại sinh vật gây bệnh, như vi khuẩn, virút, nấm và là căn bệnh có tỉ lệ người mắc rất cao, từ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong. Mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh, độ tuổi cũng như tình trạng sức khoẻ của mỗi người.
Hút thuốc lá gây hại cho phổi











Viêm phổi do vi-rút là dạng bệnh nan y nhất thường gặp ở người cao tuổi và trẻ em, thủ phạm chính là do virút Streptococcus pneumoniae hay còn gọi là vi-rút Pneumococcus. Các loại vi-rút gây bệnh về đường hô hấp là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi nhiều nhất ở nhóm trẻ từ 2 đến 3 tuổi, đến tuổi đi học trẻ thường bị viêm phổi do vi-rút Mycoplasma pneumoniae gây ra. 
Trong một số trường hợp, nhất là người già, bệnh viêm phổi thường diễn ra sau khi mắc phải bệnh cúm, cảm lạnh hoặc bị lây bệnh ngay trong bệnh viện, lí do hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu, hoặc cũng có trường hợp viêm nhiễm do khuẩn nhờn thuốc.
2. Dấu hiệu và triệu chứng
- Ho kèm theo đờm xanh hoặc đôi khi có máu.
- Sốt run rẩy.
- Đau tức ngực nhất là khi thở sâu hay ho.
- Thở gấp,thở nhanh và khó thở.
- Ngoài ra, còn xuất hiện một số triệu chứng như đau đầu, ra nhiều mồ hôi, da tái nhợt, ăn không ngon miệng, mệt mỏi và nếu là người già thường xuất hiện tình trạng lộn xộn, đờ đẫn.
3. Chẩn đoán và điều trị
Những người mắc bệnh viêm phổi thường khó thở hoặc thở nhanh kèm theo tiếng kêu khè khè. Một số phương pháp dùng để chẩn đoán bệnh như chụp X quang ngực, thử đờm để phát hiện ra sinh vật gây bệnh, sử dụng kĩ thuật thử test CBC để kiểm tra số lượng tế bào máu trắng, nếu cao là bị bệnh do vi khuẩn. Thử máu để kiểm tra hàm lượng oxy, thử test bằng kĩ thuật thoracic CT, sử dụng kĩ thuật quét Scan, ...
Nếu viêm phổi do khuẩn gây ra thì có thể dùng kháng sinh, còn do vi-rút thì thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng, cũng có trường hợp rất khó phát hiện giữa vi-rút và vi khuẩn, trong trường hợp này người ta thường kê đơn kháng sinh. 
Trường hợp mắc bệnh mạn tính, có các triệu chứng nguy hiểm hoặc có hàm lượng oxy trong máu thấp thì nên vào viện điều trị dùng kháng sinh liều cao hoặc áp dụng liệu pháp oxy. 
Trong trường hợp điều trị ở nhà nên tăng cường uống nước để giúp cho việc thở dễ dàng, nghỉ ngơi và làm những việc nhẹ, sử dụng aspirin hoặc acetaminophen để giảm sốt, tuyệt đối không được dùng aspirin cho trẻ nhỏ. Kể cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể đưa vào viện để điều trị, nhưng chỉ nên nhập viện trong các trường hợp sau:
- Có các dấu hiệu xấu về đường hô hấp.
- Thở dốc, khó thở, lạnh run, sốt liên tục.
- Thở nhanh và đau ngực.
- Ho nhiều kèm theo đờm xanh đen và có máu.
- Đau ngực nhất là khi ho.
- Ra nhiều mồ hôi vào ban đêm và sút cân không rõ lí do.
- Sức khoẻ hệ miễm dịch suy yếu như người mắc bệnh HIV, sử dụng Steroid dài kì và những người đang trong giai đoạn sử dụng liệu pháp hoá trị liệu.
4. Cách phòng ngừa
- Thường xuyên rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng nhất là khi xì mũi, sau khi đi vệ sinh tiểu đại tiện, trước khi chuẩn bị ăn uống hay chuẩn bị thức ăn.
- Không nên hút thuốc lá vì có thể gây phá huỷ phổi, giảm các chức năng hô hấp vốn có của phổi và làm tăng nguy cơ viêm nhiễm và nhiều chứng bệnh nan y khác.
- Khi làm vệ sinh nhà cửa hoặc những vùng bụi bẩn nên đeo khẩu trang.
Ngoài ra, để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh viêm phổi nhất là ở trẻ em và người già, người mắc bệnh tiểu đường, hen xuyễn, bệnh tràn dịch phổi, bệnh HIV, ung thư và các loại bệnh mạn tính khác nên tiêm phòng vac-xin như vac-xin viêm phổi Pneumovax và Prevnar, hai loại này có tác dụng phòng chống vi-rút Streptococcus pneumoniae rất tốt.
- Vac-xin cúm có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm phổi và các chứng viêm nhiễm gây nên bởi vi-rút cúm influenza. Vac-xin này được tiêm hàng năm vì vi-rút liên tục phát triển.
-Vac-xin Hib có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm phổi ở trẻ em, đặc biệt là vi-rút Haemophilus influenzae tuýp b.
Trường hợp đang điều trị tại bệnh viện nên tập cách thở sâu, giúp cho phổi làm việc tốt và nhanh phục hồi nhất là sau khi phẫu thuật. Ngoài ra, cũng có thể sử dụng máy thở để hỗ trợ thở sâu. Những người mắc bệnh ung thư, HIV nên tư vấn bác sĩ về cách phòng bệnh viêm phổi cho phù hợp với hoàn cảnh của bản thân.

Dấu hiệu bé bị viêm phổi mùa nắng nóng

Một khi trẻ có những biểu hiện của việc như thở khò khè hay chảy nước mũi, cha mẹ cần nghĩ ngay tới trường hợp con mình rất có thể đã bị viêm phổi.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm phổi ở trẻ
Những ngày hè nắng nóng, dù là người lớn hay trẻ nhỏ đều có nhu cầu giải nhiệt cho cơ thể. Thế nhưng giải nhiệt như thế nào, bằng cách nào thì lại là vấn đề đang được nhiều người quan tâm, bởi nếu sử dụng không đúng cách có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe.
Không thể phủ nhận sự dễ chịu do điều hòa nhiệt độ mang lại, nhưng lạm dụng cũng dẫn tới những tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ em. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa phòng lạnh và ngoài trời quá lớn khiến trẻ em khó thích nghi, hơn nữa, việc ngồi trong phòng điều hòa quá lâu khiến da trẻ bị khô, khô họng khiến trẻ dễ bị viêm đường hô hấp trên. 
Hơn nữa, trẻ dễ bị các loại vi sinh vật tấn công, nhất là các loại vi khuẩn gây viêm đường hô hấp như H. influenzae, phế cầu, liên cầu …Nếu không được chăm sóc tốt cũng có thể làm trẻ bị viêm phổi.
  • Dấu hiệu bé bị viêm phổi mùa nắng nóng
    Ảnh minh họa.
Cũng tại nóng nực, trẻ thích tắm nhiều lần trong ngày hoặc ngâm mình dưới nước với thời gian lâu… Đó cũng là nguyên nhân làm trẻ rất dễ bị cảm lạnh gây viêm họng, viêm amiđan hoặc nặng hơn là viêm phổi. Một số trẻ sau khi tắm xong thấy sốt cao, đau họng, chảy nước mũi, thậm chí khó thở, đó là dấu hiệu của viêm đường hô hấp cấp tính.
Dấu hiệu nhận biết trẻ bị viêm phổi
Trẻ sốt rất cao và dai dẳng: Sốt cao thường là do virus và vi khuẩn gây ra. Sốt cao sẽ gây ra co giật, mệt mỏi, mất nước, trẻ quấy khóc, bỏ bú, ngủ không sâu. Sốt cao chính là nguyên nhân góp phần làm nặng thêm các rối loạn của bệnh. Khi đang điều trị thuốc mà liên tục từ 3 ngày trở lên trẻ có biểu hiện sốt cao trên 39 độ C thì nên đưa ngay đến bệnh viện để kiểm tra.
Thở nhanh: Quan sát nhịp thở của bé bằng cử động của lồng ngực. Bạn có thể đặt tay lên lồng ngực của trẻ để đếm từng nhịp thở. Nếu tần số thở trong 1 phút là trên 60 lần/phút với trẻ sơ sinh thì hãy coi chừng, đó là dấu hiệu bệnh đang tiến triển nặng và rất nặng. Không chần chừ, đưa trẻ đến gặp bác sĩ ngay.
Tím tái: Tím tái là biểu hiện cơ thể bé từ mặt, chân, tay cho đến thân mình đều có biểu hiện da nhợt nhạt và tím lại thì đó là dấu hiệu của rối loạn hô hấp. Viêm phổi lúc này đã xảy ra khá nặng, cần đưa bé đi cấp cứu càng sớm, càng tốt.
- Bé không mở mắt phản ứng với mẹ hay không có cảm giác tiếp xúc với mẹ. Như thế là bé đang quá mệt hoặc là bé đang rơi vào trạng thái thần kinh u ám. Không có lí do gì giữ bé ở nhà trong trường hợp này.
Các biểu hiện của bệnh diễn ra nhanh, cấp tập, trầm trọng và chỉ trong một thời gian ngắn khoảng 1-2 ngày.
Chăm sóc và phòng ngừa bệnh cho trẻ
Mùa nắng nóng, cơ thể thường bài tiết nhiều mồ hôi hơn, cơ thể có nguy cơ thiếu nước và các chất điện giải. Việc bổ sung đủ nước cho trẻ đồng thời cho ăn các loại rau củ quả, trái cây là rất cần thiết vừa bồi phụ nước, cung cấp thêm dinh dưỡng và vi chất.
Để hạn chế trẻ mắc bệnh trong mùa hè, nhất là bệnh viêm phổi, trước hết trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ, hạn chế cho trẻ dùng nước đá, hoa quả lạnh trong tủ lạnh. Khi sử dụng máy điều hòa nên điều chỉnh nhiệt độ hợp lý không quá chênh lệch với nhiệt độ thời tiết bên ngoài. Không nên để gió của máy điều hoà quạt thẳng vào người trẻ. Mặc dù là mùa nắng nóng nhưng khi tắm cho trẻ, nhất là trẻ dưới 5 tuổi nên dùng nước ấm là tốt nhất và không nên cho tắm nước lạnh.
Trong các trường hợp nhẹ, mới chớm bệnh, các mẹ có thể nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn cho trẻ, cho trẻ súc miệng bằng dung dịch súc họng hoặc nước muối loãng ấm hằng ngày. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất.
Nếu thấy các triệu chứng viêm phổi nặng hơn, trẻ cần được nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế để thăm khám và điều trị. Không nên tự cho trẻ uống thuốc, đặc biệt là các loại thuốc giảm ho, kháng sinh.

Bệnh hen - “Cái chết bất ngờ” nếu không được chữa trị dứt điểm

Lên cơn hen gây khó thở trầm trọng, không được cấp cứu kịp thời người bệnh có nguy cơ tử vong bất cứ lúc nào.

Ngưng thở khi khám
Một bệnh nhân nam 53 tuổi bị hen phế quản từ năm 25 tuổi nhưng trong suốt thời gian dài, bệnh nhân này chỉ sử dụng thuốc uống hoặc thuốc xịt mỗi lần lên cơn hen. Cách đây vài ngày, khi khó thở, xịt thuốc không đỡ, ông phải vào viện cấp cứu trong tình trạng gần như ngừng thở. 
Nhiều trường hợp hen phế quản phải nhập viện điều trị trong tình trạng khó thở nặng do không điều trị đúng cách, dứt điểm bệnh. (Ảnh minh họa)
Bác sĩ trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân này cho biết, thời gian gần đây, các triệu chứng khó thở, ho khạc ra đờm đặc diễn ra thường xuyên với mức độ trầm trọng hơn. Và trong lúc đang chờ bác sỹ xem kết quả xét nghiệm thì bệnh nhân xuất hiện khó thở tăng dần, khó thở dữ dội, thở rít, co kéo lồng ngực, tím môi đầu chi, nói câu ngắn, sau đó thở yếu, tím toàn thân và ngừng thở.
May mà thời điểm đó có kíp bác sĩ trực đã nhanh chóng tiến hành cấp cứu kịp thời mới cứu được người bệnh. Nếu bệnh nhân đó không cấp cứu kịp thời thì chắc chắn tử vong và nếu chậm khoảng 3 phút thôi, dù tim có thể đập trở lại nhưng tế bào não thiếu oxy không thể hồi phục, có qua khỏi thì cũng chỉ sống thực vật.
Bệnh nhân 63 tuổi ở Đống Đa, Hà Nội đã từng 3 lần phải đi cấp cứu vì lên cơn hen gây khó thở, nhưng khi bác sĩ khám, kê thuốc, nhiều đợt thấy bệnh ổn không có triệu chứng khò khè lại dừng thuốc. Tuổi già rồi, cứ khi nào có biểu hiện hen thì mới nhớ, mà khi đã ổn định thì quên luôn việc vẫn phải dùng thuốc dự phòng - bác chia sẻ.
Chính cách điều trị sai lầm khi chỉ dùng thuốc cắt cơn hen mà không điều trị dự phòng thường khiến cho tình trạng bệnh trở nặng hơn, tần suất lên cơn hen tăng và mức độ nghiêm trọng của cơn hen cấp tăng lên, dễ dẫn tới tử vong.
Điều trị dự phòng đúng cách bằng thuốc hen thảo dược
Lựa chọn thuốc thảo dược để điều trị dự phòng hen phế quản đang là xu hướng đem lại hiệu quả cao trong điều trị và kiểm soát bệnh hen. Thuốc hen thảo dược được bào chế dạng cao lỏng, hàm lượng dược liệu cao, có tác dụng phòng ngừa cơn hen tái phát, nhờ cơ chế tác động TẬN GỐC nguyên nhân gây bệnh theo nguyên lý của y học cổ truyền nên hiệu quả cao trong điều trị, lại an toàn, không có tác dụng phụ và không gây nhờn thuốc.
Sau thời gian uống thuốc hen thảo dược 4 tuần, bệnh nhân sẽ thấy cơn hen thưa và nhẹ dần, đờm loãng và tống xuất ra ngoài, ho giảm, phế quản thông thoáng và dễ thở hơn. Công năng tỳ vị được cải thiện giúp bệnh nhân ăn ngon, ngủ ngon và yên giấc hơn, đặc biệt là thời điểm về đêm, khoảng 2 - 3 giờ sáng.
Khi điều trị đủ đợt (8 - 10 tuần), bệnh nhân không còn lên cơn hen, khỏe mạnh hơn, có thể tham gia lao động và sinh hoạt bình thường, cảm thấy yên tâm trước những thay đổi của thời tiết và các tác nhân gây cơn hen kịch phát khác.
Thuốc hen thảo dược được nhiều bác sỹ và bệnh nhân tin dùng trong điều trị tận gốc hen phế quản, ngăn ngừa bệnh hen trở lại.