Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

Ngừng thở khi ngủ: chớ coi thường!

Các bác sĩ cảnh báo nếu không được phát hiện và điều trị sớm, SAOS có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề cho bệnh nhân như ngủ không ngon, mệt mỏi, ảnh hưởng đến tim… Về lâu dài có nguy cơ cao huyết áp, lên cơn đột quỵ hay suy tim.
Ngừng thở khi ngủ có thể gây ra hậu quả nặng nề. Ảnh minh họa: internet
"Phần lớn bệnh nhân không hay biết mình mắc SAOS. Đây là một rối loạn đặc trưng của bệnh lý hô hấp có liên quan đến giấc ngủ. Biểu hiện lâm sàng là những cơn ngừng thở từng lúc khi ngủ trong thời gian từ mười giây trở lên, làm giảm nồng độ oxy trong máu, sau đó động tác hô hấp hoạt động trở lại thường phối hợp với sự thức dậy ngắn", GS.TS Ngô Quý Châu, GĐ Trung tâm Hô hấp (BV Bạch Mai, Hà Nội) cho biết.
Nguyên nhân dẫn đến hội chứng trên do rối loạn tắc nghẽn đường thở, bất thường cấu trúc hầu họng… Ngủ ngáy không hẳn là dấu hiệu của bệnh, chỉ là triệu chứng. Nếu ngủ ngáy kéo theo giấc ngủ không ngon, thức nhiều trong đêm, đi tiểu nhiều lần, đau đầu vào buổi sáng, giảm trí nhớ, tăng huyết áp… thì có thể là dấu hiệu của bệnh.
Khi có các biểu hiện trên, người bệnh nên đến các chuyên khoa hô hấp khám ngay để được điều trị kịp thời. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, bác sĩ sẽ có hướng điều trị như hướng dẫn bệnh nhân sử dụng các bài tập, cho dùng thuốc hoặc dùng máy thở khi ngủ.
Hiện nay Việt Nam chưa có điều tra rộng về SAOS. Tỷ lệ mắc hội chứng này ở châu Á là 4,1 đến 7,5% ở nam giới và 2,1 - 3,2% ở nữ giới trong độ tuổi trung niên.




Hạt tiêu chữa tắc nghẽn đường hô hấp cực hiệu quả

Hạt tiêu còn hữu ích như một phương thuốc tự nhiên giúp làm giảm tắc nghẽn đường hô hấp và được coi như vua của các loại gia vị.

Sở dĩ hạt tiêu đen tốt cho đường hô hấp vì chúng có chứa một hợp chất tên gọi là piperine.
Loại gia vị này có tính chất kháng khuẩn, giúp chống nhiễm trùng và có chứa các chất dinh dưỡng thiết yếu khác cho việc duy trì hệ hô hấp khỏe mạnh như vitamin C và K, mangan, sắt và kali.
Ở một số nước, hạt tiêu đen được coi như một phương thuốc giúp bạn thoát khỏi vấn đề về viêm xoang như: khó thở, đau đầu, chảy nước mũi và nghẹt mũi...
Bạn có thể sử dụng hạt tiêu để điều trị tắc nghẽn đường hô hấp bằng các cách sau:
- Cách phổ biến nhất là thêm loại gia vị cay nóng này vào súp hoặc thịt gà và các món canh.
- Một cách phổ biến khác là hòa hạt tiêu với nước sôi và xông hơi cay đó để làm giảm chứng ngạt mũi.
- Bạn cũng có thể thêm một muỗng gia vị này với một tách mật ong và si rô, dùng vài lần một ngày để giúp giảm tắc nghẽn đường hô hấp một cách tự nhiên.
Lưu ý khi sử dụng hạt tiêu chữa tắc nghẽn đường hô hấp
- Hạt tiêu đen nên được sử dụng ở mức vừa phải, vì nếu bạn sử dụng liều lượng lớn của loại gia vị này, bạn sẽ gặp phải cảm giác nóng rát và có thể gây hại cho phổi.
- Bạn cũng nên tránh tiếp xúc với mắt khi sử dụng hạt tiêu đen, vì nó có thể gây hại cho mắt.
- Người mang thai cũng nên tránh các gia vị này với liều lượng lớn vì nó có khả năng gây sẩy thai.
- Để bạn không phải nghi ngờ về công dụng của hạt tiêu giúp điều trị tắc nghẽn đường hô hấp, tốt nhất là bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ.




Rối loạn ngưng thở khi ngủ

Rối loạn ngưng thở khi ngủ (Sleep Disorder Breathing - SDB) là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ảnh hưởng đến hệ tim mạch theo nhiều cách.

Việc điều trị hiệu quả và kịp thời sẽ giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch cũng như giảm được biến chứng tim mạch.
Giữa SDB và bệnh tim mạch (Cardiovascular Disease - CVD) có liên quan với nhau. SDB được xác định là nguyên nhân của tăng huyết áp, suy tim sung huyết (Congestive Heart Failure - CHF), đột qụy và bệnh động mạch vành (Coronary Artery Disease - CAD). Thêm vào đó, những nghiên cứu gần đây cho thấy điều trị SDB có thể làm giảm huyết áp và cải thiện chức năng tim mạch.
Bệnh lý tim mạch thường là những bệnh lý mãn tính, gây tàn phế và có nguy cơ tử vong cao, việc điều trị dựa trên việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Rối loạn thở khi ngủ thường kết hợp với các chứng bệnh tim mạch, từ tăng huyết áp đến suy tim, và bác sĩ ngày càng chú ý đến điều trị rối loạn thở khi ngủ.
Rối loạn ngưng thở khi ngủ là gì?
Rối loạn ngưng thở khi ngủ (SDB) là những rối loạn liên quan đến hệ hô hấpkhi ngủ, bao gồm ngưng thở tắc nghẽn (Obstructive Sleep Apnea - OSA), ngưng thở trung ương (Central Sleep Apnea - CSA) và những dạng ngưng thở khác. 
Ngưng thở được định nghĩa là khi không có luồng hơi thở trong ít nhất 10 giây. Dạng rối loạn thở khi ngủ phổ biến nhất là ngưng thở tắc nghẽn.
Trong ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, đường thở trên xẹp lại làm tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn đường thở khi ngủ đồng thời có hô hấp gắng sức. Giảm thở (giảm không khí) tương tự như ngưng thở, nhưng thay vì hoàn toàn không có luồng hơi thở, trong giảm thở thì luồng hơi thở bị giảm (thở chậm, thở nông) trong vòng 10 giây hoặc hơn, kèm theo hiện tượng giảm bão hòa oxy ít nhất 4%.
Ngưng thở trung ương là khi không có luồng hơi thở và cũng không có hô hấp gắng sức. Khi vừa có ngưng thở tắc nghẽn, vừa có ngưng thở trung ương thì thường được gọi là ngưng thở hỗn hợp.
Một dạng rối loạn thở đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân tim mạch là nhịp thở Cheyne - Stokes (Cheyne-Stokes respiration - CSR). Đặc điểm của nhịp thở này là ngưng thở trung ương hoặc giảm thở, sau đó là nhịp thở sâu và nhanh, luân phiên nhau theo chu kỳ. CSR dẫn đến giảm bão hòa oxy, tăng hoạt động thần kinh giao cảm, loạn nhịp tim.
Triệu chứng và hiện tượng ngưng thở tắc nghẽn
- Ngáy.
- Thở gián đoạn khi ngủ.
- Buồn ngủ vào ban ngày.
- Nhức đầu vào buổi sáng.
- Tăng huyết áp.
Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và bệnh tim mạch
Ngưng thở và giảm thở dẫn đến giảm bão hòa oxy và tăng carbon dioxide trong máu. Khi lượng carbon dioxide trong máu tăng đến một mức nhất định, cơ thể sẽ cố gắng tìm cách để thở, gây nên hiện tượng vi thức giấc và thở bình thường trở lại. 
Trong khi ngưng thở, hệ thần kinh giao cảm gia tăng, dẫn đến loạn nhịp tim và làm tăng huyết áp. Ngưng thở được xem là nguyên nhân làm tăng huyết áp, liên quan đến suy tim sung huyết (CHF), bệnh động mạch vành (CAD) và rung nhĩ (Atrial Fibrillation - AF). 
Hậu quả huyết động lực học của OSA bao gồm tăng huyết áp, tăng áp động mạch phổi.
Rối loạn ngưng thở khi ngủ
Rối loạn ngưng thở khi ngủ và tăng huyết áp:
80% bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị bị rối loạn thở khi ngủ.
SDB gây ra áp lực tim mạch kéo dài, dẫn đến tăng huyết áp suốt ngày và đêm.
Người có OSA từ nhẹ đến trung bình có nguy cơ tăng huyết áp cao gấp đôi, người có OSA nặng thì nguy cơ tăng huyết áp cao gấp 3 người không bị OSA.
Điều trị hiệu quả SDB đã được chứng minh làm giảm huyết áp rõ rệt trong lúc ngủ cũng như khi thức giấc.
Rối loạn ngưng thở và suy tim sung huyết (CHF):
73% bệnh nhân suy tim sung huyết có rối loạn thở khi ngủ
SDB phổ biến ở bệnh nhân suy tim vừa và nặng, làm bệnh tim mạch tiến triển, ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị và cả làm tăng tỉ lệ tử vong.
Các nghiên cứu đã chứng minh điều trị SDB hiệu quả sẽ giúp cải thiện chức năng tim (phân suất tống máu thất trái, LVEF-left ventricular ejection fraction) và làm phì đại tim (kích thước cuối tâm thu thất trái, LVSED-left ventricular end-systolic dimension).
Rối loạn ngưng thở và bệnh động mạch vành (CAD):
Khoảng 30% bệnh nhân động mạch vành bị rối loạn thở khi ngủ.
Điều trị ngưng thở tắc nghẽn ở bệnh nhân động mạch vành giúp làm giảm xảy ra các biến cố tim mạch mới (ví dụ tử vong, nhập viện, tái thông mạch), và làm tăng khoảng thời gian giữa các biến cố đó.
Rối loạn ngưng thở và rung nhĩ (AF):
Ngưng thở tắc nghẽn ảnh hưởng đến khoảng 50% số bệnh nhân rung nhĩ.
Bệnh nhân rung nhĩ được điều trị CPAP hiệu quả sẽ có nguy cơ rung nhĩ tái phát thấp hơn bệnh nhân không được điều trị OSA.



9 cách để có một lá phổi khỏe mạnh

Môi trường ô nhiễm, khói thuốc lá là hai trong số những nguyên nhân chính khiến các ca mắc ung thư phổi tăng mạnh trong vài năm qua. Tuy vậy, chỉ bằng một vài lưu ý đơn giản, chúng ta sẽ giữ cho phổi khỏe và hoạt động tốt.
Tránh xa khói thuốc bằng mọi giá: Hút thuốc khiến bạn gặp nguy cơ cao nhất bị ung thư phổi và phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Ngay cả hít phải khói thuốc do người khác hút cũng rất có hại.  
Cải thiện môi trường sống: Hiện trên toàn thế giới có hơn 155 triệu người đang phải sống trong vùng không khí ô nhiễm ảnh hưởng sức khỏe. Tình trạng này không chỉ làm cho những người bị hen và COPD cảm thấy tệ hơn, mà khiến nguy cơ tử vong ở những người này cũng cao hơn. Bạn có thể làm từ những việc nhỏ như cắt giảm điện tiêu thụ, giảm lượng xăng bằng cách sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, xe đạp điện, cải thiện hệ thống thông gió và sử dụng chất tẩy rửa không khí…
Tích cực tập thể dục: Bản thân việc tập thể dục thể thao không thể một chốc lát làm cho lá phổi của bạn khỏe mạnh hơn, mà điều này cần có thời gian. Tập thể thao làm hệ thống tim mạch hoạt động tốt, cung cấp ôxy cho tim và các cơ bắp.

Ảnh minh họa
Cẩn thận với ô nhiễm không khí ngoài trời: Những người có vấn đề về phổi thì đặc biệt nhạy cảm với không khí ô nhiễm. Do đó bạn nên hạn chế đến các công trường xây dựng, hạn chế ra đường vào giờ tan tầm đầy khói bụi, luôn cần có khẩu trang trong túi…
Xây dựng một chế độ ăn uống lành mạnh: Khoa học đã chứng minh các chất chống ôxy hóa tốt cho lá phổi. Một nghiên cứu năm 2011 cho thấy các loại rau họ cải như cải bắp, súp lơ, bông cải xanh, cải xoăn có nguy cơ tránh được ung thư phổi.





Phát hiện sớm teo thực quản

Teo thực quản là một dị dạng bẩm sinh, do rối loạn trong quá trình tạo phôi thai nên teo thực quản thường kèm theo các dị tật khác.

Đây là dị dạng tiêu hóa nặng dễ gây tử vong. Bệnh cần được phát hiện sớm, điều trị kịp thời mới cứu được trẻ.
Rối loạn phôi thai dẫn đến teo thức quản
Trong quá trình phát triển phôi thai, khí quản phát triển từ trung bì của lá phôi thứ nhất vào lúc 4 tuần tuổi. Từ vách của khí quản, được tách thành thực quản. Nếu màng vách này không tách được hoàn toàn giữa khí quản và thực quản, gây ra teo thực quản có hoặc không có lỗ rò thông khí quản và thực quản. Teo thực quản thường kèm theo dị tật khác, đứng đầu là bệnh tim bẩm sinh, rồi đến dị tật đốt sống, dị tật ở hệ tiêu hóa và dị tật chân tay.
Phát hiện sớm teo thực quản
Teo thực quản có lỗ rò trước mổ (trái) và sau mổ (phải).
Vì teo thực quản có thể gây tử vong, nên cần phát hiện sớm, điều trị kịp thời mới cứu được trẻ. Do đó, bệnh cần được chẩn đoán trước sinh và ngay sau khi sinh. Việc chẩn đoán trước sinh chủ yếu dựa vào bằng chứng gián tiếp như: mẹ đa ối, hình ảnh siêu âm không thấy hình ảnh dạ dày, giãn thanh quản và túi cùng thực quản đầu xa; có hoặc không có bóng hơi dạ dày; phát hiện được dị tật bẩm sinh khác kèm theo. Tuy nhiên nguyên nhân của teo thực quản bẩm sinh đến nay vẫn chưa biết rõ.
Biểu hiện sớm của teo thực quản
Sau khi sinh ra, trẻ có thể bình thường. Nhưng ngay khi cho trẻ bú lần đầu tiên, trẻ bị ho sặc, thậm chí tím tái. Khi trẻ nằm yên hay ngủ, có biểu hiện đặc biệt là nước bọt trào ra xung quanh miệng liên tục, gọi là "sùi bọt cua". Nước bọt hoặc dịch dạ dày có thể theo đường rò đi vào phổi gây viêm phổi, nên trẻ có dấu hiệu tím tái, suy hô hấp (khó thở). 
Trẻ cũng thường bị trướng bụng từ các bẫy khí ở đường tiêu hóa. Một số trẻ bị teo thực quản được chẩn đoán trước sinh nhờ siêu âm thấy đa ối, kèm theo có dạ dày nhỏ hoặc không quan sát được dạ dày. Nếu muộn, trẻ có thể ở trong tình trạng viêm phổi do sặc hay suy hô hấp.
Phẫu thuật điều trị
Khi cha mẹ phát hiện các triệu chứng của bệnh, cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện, tránh để lâu vì chỉ chậm một ngày cũng có thể đã là muộn và dễ chuyển sang biến chứng.
Điều trị teo thực quản chủ yếu là phẫu thuật. Nhưng trước khi phẫu thuật, cần tiến hành hút dẫn lưu dịch ở túi cùng thực quản để giảm bớt nguy cơ trẻ hít dịch từ đường rò gây viêm phổi hoặc viêm phổi nặng thêm, đồng thời cần giữ cho trẻ nằm đầu cao khoảng 30 độ.
Phẫu thuật để loại bỏ đường rò (nếu có) và khâu nối hai đầu thực quản. Nếu hai đầu thực quản nằm cách nhau quá xa thì có thể lấy một đoạn ruột đưa lên để ghép nối với thực quản. Cách khác là đưa đầu trên thực quản ra cổ, mở thông dạ dày để cho trẻ ăn. Khoảng 6 tháng sau sẽ tiến hành phẫu thuật tạo hình thực quản. Sau phẫu thuật, trẻ cần được thở máy, cho ăn bằng đường truyền tĩnh mạch, không cho ăn bằng miệng, kiểm tra khí máu, công thức máu... chăm sóc tích cực và theo dõi tại khoa hồi sức cấp cứu.
Cảnh giác với biến chứng
Nhờ sự tiến bộ của y học, trẻ bị teo thực quản bẩm sinh có cơ hội được cứu sống cao hơn so với trước đây. Nhưng đối với trẻ bị teo thực quản kết hợp với những dị tật khác thì tỷ lệ sống thấp hơn.
Các biến chứng mà mẹ và thai nhi có thể gặp là thai phụ đẻ non, nhiễm khuẩn mẹ và con, các dị tật kèm theo teo thực quản và viêm phổi.
Các biến chứng sau phẫu thuật là: rò miệng nối, mềm sụn thanh quản, hít dịch tái diễn, tổn thương dây thần kinh khí quản. Biến chứng muộn là trào ngược dạ dày thực quản, yếu khí quản, hẹp miệng nối.
Nguy hiểm nhất là biến chứng rò miệng nối, vì có thể khiến trẻ tử vong do nhiễm khuẩn, suy hô hấp với các triệu chứng: tràn dịch màng phổi, nước bọt qua dẫn lưu, suy hô hấp sau khi rút ống nội khí quản, nhiễm khuẩn toàn thân, tràn khí màng phổi đột ngột...
Cần điều trị và phẫu thuật sớm
Teo thực quản là một dị tật nguy hiểm, dễ tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Điều trị bằng phẫu thuật cũng rất khó khăn vì là một cuộc phẫu thuật lớn ở ngực, trong khi trẻ mới sinh ra hoặc còn nhỏ, sức chịu đựng yếu, nhất là trẻ luôn có tình trạng viêm phổi trước mổ, thường hay xảy ra với trẻ sinh non, nhẹ cân.
Vì vậy, để bảo vệ tính mạng những trẻ bị teo thực quản, điều quan trọng nhất là cha mẹ phải hiểu biết để có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh, đưa con đi khám và điều trị kịp thời. Việc phẫu thuật sớm sẽ tránh được một số biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng của trẻ.




Cẩn trọng kẻo chết vì suy hô hấp cấp

Suy hô hấp nếu được điều trị đúng có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Trái lại, nếu không cấp cứu và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể bị hôn mê và tử vong.
 suy-ho-hapMột số cách nhận biết kịp thời và xử lý bệnh suy hô hấp cấp:
Bệnh do đâu?
Bệnh có thể do nhiều cơ chế gây ra nhưng có thể một cơ chế chung cho nhiều bệnh có biến chứng suy hô hấp:
- Do phổi: Yếu tố làm dễ là nhiễm trùng phế quản – phổi, thuyên tắc động mạch phổi, tràn khí màng phổi; Hay phù phổi cấp do tim.
Do hen phế quản đe dọa nặng, hen phế quản cấp nặng: Đây là bệnh thường gặp, thường là do điều trị không đúng cách hay không kịp thời có thể do cơ địa bệnh nhân dễ bị hen phế quản nặng.
- Tắc nghẽn phế quản cấp: Bệnh nầy ít gặp, ở trẻ em có thể do vật lạ, ở người lớn có thể do u, xẹp phổi cấp có thể do đặt nội khí quản.
- Tràn dịch màng phổi: Ít gây suy hô hấp cấp nếu tràn dịch từ từ, chỉ gây suy hô hấp cấp khi tràn dịch cấp, lượng dịch tăng nhanh.
- Chấn thương lồng ngực: Bệnh này gây gãy xương sườn từ đó gây tổn thương màng phổi và phổi.
- Tổn thương thần kinh trung ương: Nguyên nhân thường là chấn thương sọ não, ngộ độc thuốc, tai biến mạch máu não; những nguyên nhân gây nên tổn thương trung tâm hô hấp…
Dấu hiệu bạn bị suy hô hấp cấp 
- Nhịp thở và biên độ hô hấp: Thiếu ôxy máu và hay là tăng khí carbonic máu gây nên thở nhanh, tần số thở khoảng 40 lần /1 phút.
- Tím tái: Tím là dấu chứng chủ yếu, xuất hiện ở môi, đầu tay chân, mặt hay toàn thân khi hemoblogine khử > 50g/l. Tím thường phối hợp với tăng khí carbonic máu, tím đi kèm giãn mạch ở đầu chi, đôi khi có vã mồ hôi.
- Dấu hiệu tuần hoàn: Thiếu ôxy máu và tăng khí carbonic máu làm tăng tỉ catécholamine và như vậy làm mạch nhanh, gây nên những cơn tăng huyết áp và tăng cung lượng tim, có thể có loạn nhịp trên thất, giai đoạn sau huyết áp có thể hạ.
- Dấu chứng thần kinh tâm thần: Dấu chứng nầy chỉ gặp trong suy hô hấp cấp nặng; đó là trạng thái kích thích, vật vã, rối loạn tri giác như  lơ mơ hay hôn mê…
Cấp cứu khi suy hô hấp
- Tiến hành ngay hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt đối với nạn nhân bị suy hô hấp cấp.
- Nếu ngừng tim, phải ép tim ngoài lồng ngực: dùng 2 tay chồng lên nhau ép lên lồng ngực ngoài tim, khoảng 70-100 lần/phút. Nếu chỉ có một người cấp cứu thì thổi ngạt 2-3 hơi lại ép tim ngoài lồng ngực 10-15 nhịp.
- Khi có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt liên tục, một người ép tim ngoài lồng ngực liên tục, làm kiên trì cho đến khi tim đập lại và thở trở lại.
Điều trị tại bệnh viện
- Dùng máy hút đờm dãi, chất xuất tiết sạch ở miệng, mũi, họng bệnh nhân.
- Rửa phế quản, làm loãng đờm bằng khí dung, bằng bơm dung dịch bicarbonat natri 14‰ hay dung dịch chlorua natri 0,9%, 2-5ml mỗi lần rồi hút ra.
- Bồi phụ nước và điện giải và cân bằng kiềm toan.
- Thở ôxy: khí ôxy phải được làm ẩm và làm ấm trước khi sử dụng cho bệnh nhân.
- Đối với bệnh nhân có nồng độ khí carbonic trong máu cao mạn tính do suy hô hấp mạn, cho thở khoảng 1-3lít/phút, thở ngắt quãng và được kiểm soát nồng độ các khí trong máu…



Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Tìm hiểu về bệnh viêm đường hô hấp trên

Viêm đường hô hấp trên đa phần là những bệnh có mức độ trung bình nhưng chúng có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Nguyên nhân gây bệnh viêm đường hô hấp
Nguyên nhân gây ra viêm đường hô hấp trên là các virus. Ngoài ra cũng có thể do các nguyên nhân khác như vi khuẩn, nấm, bụi, khí độc. Có thể kể ra đây một số loại virus điển hình như: virus Rhino, Corona, Á cúm Parainfluenza, Adeno, virus hô hấp hợp bào RSV.
Tìm hiểu về bệnh viêm đường hô hấp trên.Tìm hiểu về bệnh viêm đường hô hấp trên
Một số loại vi khuẩn cũng thường gặp trong bệnh viêm đường hô hấp trên là liên cầu khuẩn tan máu nhóm A, phế cầu khuẩn, Haemophilus influenzae, một số loại nấm...
Biểu hiện và biến chứng của bệnh viêm đường hô hấp
Viêm đường hô hấp trên không phải là một bệnh mà là một tổ hợp bệnh bao gồm: cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ khác nhau nhưng chúng đều có một số biểu hiện chung rất dễ nhận thấy.
Những triệu chứng chủ yếu bao gồm: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…
Đặc điểm quan trọng của viêm đường hô hấp trên là thời gian ủ bệnh ngắn, tốc độ biểu hiện bệnh nhanh và các biểu hiện mang tính ồ ạt. Chính vì thế mà sốt trong các bệnh của viêm đường hô hấp trên thường là sốt cao và thành cơn. Thân nhiệt thường là 39oC trở lên. 
Đi kèm với sốt là hắt hơi, sổ mũi, người bệnh hắt hơi nhiều hơn mức bình thường, có khi đến 4-5 cái/một lần và xuất hiện nhiều lần trong ngày. Có khi hắt hơi đến rát cả mũi họng. Sau đó người bệnh sẽ bị chảy dịch mũi với đặc điểm dịch nhiều, trong, loãng, không có mủ và không có mùi hôi.
Khi virus gây bệnh ở thanh quản thì người bệnh sẽ bị khàn tiếng. Càng nói nhiều như ca sỹ, người bán hàng, giáo viên, nhân viên tiếp thị… thì tốc độ khàn tiếng càng nhanh và càng nặng vì dây thanh âm càng bị tổn thường nặng nề. Ban đầu chỉ là lạc tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và có khi đến mất giọng.
Cách phòng tránh viêm đường hô hấp trên
Các thuốc chủ yếu được sử dụng là thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm tại chỗ .
Trong chứng bệnh này, biện pháp dự phòng được đặt lên hàng đầu để ứng phó. Vì đây là một bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp nên phải:
Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân .
Giữ đôi bàn tay luôn sạch sẽ (rửa tay bằng xà phòng) khi ăn uống sẽ loại trừ virus khỏi bàn tay. Do đó virus không có cơ hội xâm nhập vào đường hô hấp .
Đeo khầu trang cách ly với mầm bệnh.
Tránh làm việc, học tập trong môi trường nhiệt độ quá cao .
Luôn giữ ấm cơ thể khi thời tiết lạnh, mưa …