Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Khí độc từ nhà bếp có thể gây ung thư

Khói và khí độc của bất kỳ loại nhiên liệu nào từ nhà bếp cũng đều có hại cho sức khỏe dẫn đến bệnh tật, trước tiên đối với người nấu bếp và sau đó là người xung quanh.

Trong khu vực nhà bếp, bất kể là khí than, dầu hỏa, khí gas khi cháy đều sản sinh khí độc hại như CO2. Trong đó, khí than gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất do nó sinh ra NO2, SO2 và bụi khói.
Khí gas khi cháy sinh ra khí NO2 cao gấp 5-6 lần so với bên ngoài, có hại cho đường thở. Ngoài ra có thể rò khí gas, nếu gặp lửa sẽ gây nổ rất nguy hiểm. 
Khói dầu hỏa chứa nhiều chất độc hại gây kích thích đường hô hấp dẫn đến ngứa họng, đau họng, ho; kích thích kết mạc mắt gây chảy nước mắt; kích thích niêm mạc mũi gây chảy nước mũi, hắt hơi; tác động đến đường tiêu hóa và hệ thần kinh như mệt mỏi và chán ăn. 
Ngoài ra, khói dầu hỏa còn là nguyên nhân gây ung thư phổi.
Các loại nhiên liệu trên khi cháy còn sinh ra chất benzopyren - một chất gây ung thư mạnh. Những người nấu bếp hay những người ở lâu trong nhà bếp đều dễ bị tức ngực, đau đầu, tắc mũi, ngứa mắt, ù tai. 
Về lâu dài còn bị giảm trí nhớ, mất ngủ, dễ viêm nhiễm đường hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi…

Bí quyết kiểm soát các cơn ho bất ngờ

Các cơn ho bất ngờ thường xuất hiện do chất nhầy và đờm vướng trong cổ họng.

Mặc dù không gây nguy hại nhiều nhưng những cơn ho như vậy sẽ khiến bạn cảm thấy lúng túng khi đang trong cuộc họp hoặc ở nơi công cộng. Những cách sau đây có thể giúp bạn kiểm soát các cơn ho bất ngờ này.
Mặc dù không gây nguy hại nhiều nhưng những cơn ho như vậy sẽ khiến bạn cảm thấy lúng túng khi đang trong cuộc họp hoặc ở nơi công cộng
Mặc dù không gây nguy hại nhiều nhưng những cơn ho như vậy sẽ khiến bạn cảm thấy lúng túng khi đang trong cuộc họp hoặc ở nơi công cộng
- Ngay khi vừa xuất hiện cơn ho, bạn hãy lấy một hơi thật sâu bằng mũi và nín thở lâu hết sức có thể. Sau khi thở ra, bạn hãy lưu ý tiếp tục lấy hơi qua đường mũi thay vì miệng để tránh làm cổ họng khó chịu hơn.
- Bạn cũng có thể thở thật chậm bằng mũi và cố nén cơn ho lại. Khi cảm thấy cơn ho đã đỡ hơn một chút, hãy uống một cốc nước ấm để làm dịu cơn kích ứng trong cổ họng.
- Phương pháp thở sau đây cũng khá hữu ích trong việc kiềm chế các cơn ho. Cứ 8 giây, hãy thử hít một hơi thật sâu bằng mũi. Giữ hơi thở đều đặn như vậy trong vài phút sẽ khiến cơn ho qua đi.
Trà gừng hoặc trà mật ong có tác dụng làm dịu cơn ho
Trà gừng hoặc trà mật ong có tác dụng làm dịu cơn ho 
- Nếu bạn đang ở nhà, hãy thử uống một thìa mật ong hoặc uống trà/sữa nóng cũng có tác dụng đáng kể. Nếu không, hãy dùng một miếng gừng kèm một chút muối. Gừng có tác dụng rất tốt trong việc làm dịu kích ứng họng.
- Nếu như các cơn ho không dứt hẳn, hãy pha một chút nước muối loãng để rửa họng. Nước muối sẽ giúp làm sạch các chất gây kích ứng - nguyên nhân gây ra cơn ho.

Khổ vì ho ngày ho đêm

Khi bị cảm, xếp ngay sau sự khó chịu vì chảy nước mũi là việc ho lụ khụ suốt cả ngày. Sẽ khốn khổ khi vì một nguyên nhân nào đó, tình trạng ho của bạn kéo dài hàng tháng.

Thực tế, ho “liên hồi” và “trường kỳ” không đơn giản như bạn nghĩ. Nó có thể gây ảnh hưởng xấu đến một số cơ quan khác. Do đó, bạn không nên chỉ tin tưởng vào các loại thuốc giảm ho mà nên đến khám tại các chuyên khoa hô hấp để xác định và điều trị nguyên nhân ho kịp thời.
 
Ho vì… thức ăn
Mỗi lần thấy anh Đ.H., 44 tuổi, ho lấy ho để là những đồng nghiệp khác ngồi nhìn nhau lắc đầu ngao ngán. Chẳng phải vì họ khó khăn gì, chỉ là vì tần suất ho của anh H. quá dày, cứ khoảng mỗi 5 phút một đợt. Bản thân anh H. cho rằng, anh không hút thuốc, trong gia đình không có ai có vấn đề gì về đường hô hấp nên tình trạng này cũng sẽ nhanh chóng biến mất. 

Gắng gồng chẳng đặng, sau 3 tuần chịu đựng cơn ho vật vã ngày đêm, anh đành phải gõ cửa bác sĩ. Sau khi làm một số đánh giá và xét nghiệm, bác sĩ cho biết một nguyên nhân mà chính anh và gia đình không hề nghĩ đến: trào ngược dạ dày, thực quản (GERD). Bác sĩ cho biết thêm, dây thanh quản của anh đang có dấu hiệu bị tổn thương do ho quá nhiều trong thời gian dài, và tình trạng sẽ khá tệ nếu anh đến khám trễ hơn.
Thực tế, tình trạng ho kéo dài có thể dẫn đến nhiều nguy cơ khác như: tràn khí màng phổi, loạn nhịp tim, đau cơ liên sườn, nhức đầu, thuyên tắc khí mạch máu…
Nhiều nguyên nhân gây lên
Theo ThS.BS Lê Khắc Bảo, giảng viên bộ môn Nội, Đại học Y dược TP.HCM, nguyên nhân gây ho có thời gian dưới 3 tuần thường là do nhiễm siêu vi hay vi khuẩn ở đường hô hấp trên, gây viêm khí phế quản, viêm phổi cấp. Ngoài ra, còn có thể do các vấn đề như: đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), thuyên tắc phổi, hít sặc, ho gà (ho kéo dài trên 2 tuần)…
Trong khi đó, tình trạng ho mạn (trên 3 tuần) có thể là do một số nguyên nhân như:
- Hội chứng chảy mũi sau
- Hen (dạng ho)
- Hội chứng GERD
- Viêm phế quản mạn
- Giãn phế quản
- Lao phổi, lao phế quản
- Mềm sụn thanh quản, dị vật đường thở
- Rối loạn chức năng dây thanh
- Hít sặc tái đi tái lại
- Do tác dụng phụ của thuốc hạ áp loại ức chế men chuyển
- Sán lá phổi
- Do vấn đề tim mạch như: suy tim trái, nhồi máu phổi, phình quai động mạch chủ.
Ngoài ra, ho cũng có thể là biểu hiện của ung thư phế quản, u lành đường thở, u trung thất…Bệnh nhân  bị ho có thể do một hay nhiều nguyên nhân cùng lúc. Do đó, để xác định chính xác, bác sĩ thường chỉ định tiến hành kiểm tra, thăm dò chức năng như: hô hấp ký, xét nghiệm đàm, CT scan xoang, CT scan lồng ngực, nội soi tai – mũi – họng, dạ dày – thực quản, phế quản…
Điều trị đúng mới hết 
Để giảm triệu chứng ho, bệnh nhân sẽ được chỉ định sử dụng loại thuốc giảm ho hỗ trợ như thuốc ức chế ho trung ương (giảm ho khan), thuốc tiêu đàm hoặc thuốc gây tê tại chỗ để ức chế ho ngoại biên. 

Tuy nhiên, điều trị nguyên nhân vẫn là ưu tiên hàng đầu. Việc điều trị triệu chứng được chỉ định khi chưa xác định được nguyên nhân cụ thể, hoặc bệnh nhân ho nhiều vượt quá khả năng chịu đựng. Ngoài ra, đây cũng chỉ là biện pháp hỗ trợ khi việc điều trị nguyên nhân đang gặp khó khăn hay chưa đủ để khống chế ho.

Lạm dụng thuốc giảm ho có thể kéo theo các tác dụng phụ khó lường.
Ảnh minh họa. 

Thuốc ho cực mạnh cũng chẳng có hiệu quả đối với người đang gặp các vấn đề không liên quan đến đường hô hấp như: trào ngược dạ dày, sử dụng thuốc ức chế men chuyển (muốn giảm ho, phải ngưng thuốc hoặc thay bằng thuốc khác)… 
Đó là chưa kể việc sử dụng thuốc giảm đau, giảm ho lâu dài có thể kéo theo các tác dụng phụ như: dễ gây nghiện, có thể gây ức chế hô hấp, táo bón, buồn ngủ; hoặc các loại thuốc gây tê tại chỗ nếu sử dụng lâu ngày có thể làm mất đi phản xạ tự bảo vệ của phổi.

Tuyệt chiêu phòng hen phế quản khi thời tiết thay đổi

Tại Việt Nam, hơn 5% dân số tương đương với 4 triệu người bị mắc hen phế quản (hen suyễn). Các ca tử vong do hen phế quản đang tăng nhanh, chỉ đứng sau tử vong do ung thư.

Dấu hiệu nhận biết hen phế quản
Hen phế quản là tình trạng viêm mãn tính đường dẫn khí (phế quản) gây nên phù và chít hẹp đường thở dẫn tới hiện tượng khó thở, khò khè.
Bốn triệu chứng thường thấy nhất bao gồm:
1. Khò khè: tiếng rít thường nghe được khi thở ra; 2. Ho nhiều; 3. Nặng ngực: cảm giác giống như lồng ngực bị bóp chặt; 4. Khó thở: thở nhanh, ngắn và thấy khó khăn, đặc biệt là khi thở ra.
Bệnh nhân chọn mua thuốc hen thảo dược tại hiệu thuốc
Đề phòng hen phế quản khi thời tiết thay đổi
Với bệnh nhân hen phế quản, sức khỏe thường không tốt, sức đề kháng kém. Mỗi khi thay đổi thời tiết, cơ thể khó và chậm thích ứng với sự thay đổi bất thường dẫn đến việc dễ lên cơn hen trong giai đoạn chuyển mùa.
Để hạn chế cơn hen cấp tính tái phát, bệnh nhân hen phế quản cần lựa chọn thuốc điều trị hiệu quả và chú ý chăm sóc sức khỏe bằng cách ăn uống điều độ đủ chất dinh dưỡng, không nên ăn các đồ ăn dễ gây dị ứng với bản thân, không nên uống rượu bia, không nên ăn các chất kích thích, không hút thuốc lào, thuốc lá; tập thể dục đều đặn phù hợp với sức khỏe; tránh các yếu tố kích ứng….
Thuốc điều trị tận gốc hen phế quảng
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân sinh bệnh hen là do công năng của ba tạng Tỳ - Phế - Thận không được điều hòa và suy yếu gây nên, trong đó:
Tạng Phế: Phế có công năng chủ xuất nhập khí. Phế rối loạn làm khí xuất nhập rối loạn gây nên khó thở. Cho nên trong bệnh hen, triệu chứng điển hình dễ thấy là cơn khó thở, khó thở ra, khó thở có chu kỳ, cơn khó thở bùng phát khi gặp các yếu tố kích thích như gió, ẩm, lạnh, bụi, mùi lạ, căng thẳng, mệt nhọc...
Tạng Tỳ: Có chức năng vận hóa, chuyển biến hóa thức ăn. Khi bị ẩm thấp, hay lo nghĩ quá nhiều làm rối loạn công năng của tỳ. Chức năng chuyển hóa thức ăn của Tỳ rối loạn sẽ sinh đờm. Đờm dừng ở phế sẽ làm tắc nghẽn gây khó thở.
Tạng Thận: Chủ nạp khí. Công năng thận rối loạn cơ thể yếu từ lúc mới sinh. Thận không nạp khí nên khí ngược lên gây khó thở. Thận chủ thủy, thủy suy thì không sinh được huyết mà lại sinh đờm.
Đúc kết kinh nghiệm trăm năm y học cổ truyền, thuốc hen thảo dược đã được bào chế thành công dưới dạng cao lỏng - chai 250ml, điều trị hen phế quảnTẬN GỐC theo nguyên lý của y học cổ truyền.
Theo đó, các vị thuốc trong thuốc hen thảo dược có tác dụng nâng cao chức năng các tạng Tỳ - Phế - Thận bị suy yếu một cách dần dần, cân bằng và điều hòa chức năng giữa 3 tạng,giúp các kháng thể tự nhiên sinh ra, sức đề kháng của cơ thể được cải thiện rõ rệt. Phế quản không sinh đờm, hết viêm và phù nề. Số lần lên cơn khó thở thưa hơn và cơn hen nhẹ dần, từ đó không tái phát.
Thuốc hen thảo dược được bào chế dạng cao lỏng - chai 250ml, hàm lượng dược liệu cao, an toàn, hạn chế tác dụng phụ và không gây nhờn thuốc, hiệu quả cao trong điều trị, đặc biệt là với bệnh nhân hen mãn tính, có tiền sử mắc bệnh hen lâu năm.
Thuốc hen thảo dược là THUỐC ĐIỀU TRỊ hen phế quản được bộ Y tế cấp phép, không phải thực phẩm chức năng.
Phác đồ điều trị hen phế quản bằng thuốc hen thảo dược
Một đợt điều trị của thuốc hen thảo dược kéo dài từ 8-10 tuần. Sau thời gian điều trị bằng thuốc hen thảo dược 4 tuần, bệnh nhân sẽ thấy cơn hen thưa và nhẹ dần, đờm loãng và tống xuất ra ngoài, ho giảm, phế quản thông thoáng và dễ thở hơn. Công năng tỳ vị được cải thiện giúp bệnh nhân ăn ngon, ngủ ngon và yên giấc hơn, đặc biệt là thời điểm về đêm, khoảng 2-3 giờ sáng. Trong thời gian này, nếu còn xuất hiện các cơn khó thở kịch phát, bệnh nhân có thể dùng thuốc Tây để cắt cơn.
Khi điều trị đủ đợt (8-10 tuần), bệnh nhân KHÔNG còn lên cơn hen, khỏe mạnh hơn, có thể tham gia lao động và sinh hoạt bình thường, cảm thấy yên tâm trước những thay đổi của thời tiết và các tác nhân gây cơn hen kịch phát khác.Kết quả điều trị này được duy trì lâu dài.
Với trường hợp bệnh nặng có thể điều trị từ 2-3 đợt.
Thuốc hen thảo dược được nhiều bác sỹ và bệnh nhân tin dùng trong điều trị TẬN GỐC hen phế quản.

Cách chữa viêm họng, ho có đờm không cần dùng thuốc

Cách chữa viêm họng, ho có đờm không cần dùng thuốc. Dưới đây là một số cách chữa ho, viêm họng bằng Đông y hiệu quả nhưng ít người biết đến.

1. Chữa ho có đờm, trẻ em nôn trớ:

Dùng 2 – 3 lá xương sông bánh tẻ, 5 thìa mật ong. Lá xương sông rửa sạch, thái nhỏ, cho vào bát hấp cùng mật ong (để sôi chừng 10 phút).

Chắt nước cho trẻ uống làm nhiều lần trong ngày. Người lớn nhai nuốt cả lá rất tốt.

2. Trị ho ở trẻ em:

Lấy 10 gr hạt chanh, 15 gr lá hẹ, 15 gr hoa đu đủ đực, đem nghiền nát tất cả rồi trộn với 20 ml nước, thêm mật ong hoặc đường kính, chia uống ba lần trong ngày.

Cách chữa viêm họng, ho có đờm không cần dùng thuốc

3. Trị viêm họng: Lấy thân, lá cây rau dền gai rửa thật sạch, 1 – 3 lát gừng tươi, ít muối, nhai nuốt nước dần. Ngày dùng 1 – 2 lần.

4. Chữa ho có đờm: Lấy 50 – 100 gr thân lá cây rau dền gai rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước uống.

Tràn dịch màng phổi không chỉ đơn thuần bệnh lao

Tràn dịch màng phổi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ngay cả trẻ em, nhưng với người cao tuổi thường để lại hậu quả xấu nặng nề hơn. Vì vậy, cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Ở Mỹ, hàng năm có khoảng xấp xỉ một triệu trường hợp tràn dịch màng phổiđược phát hiện; ở nước ta hàng năm có khoảng 1.000 trường hợp được chẩn đoán và can thiệp.
Nhiều nguyên nhân
Màng phổi gồm lá thành và lá tạng, giữa hai lá có khoảng trống. Bình thường trong khoảng trống có một ít dịch sinh lý để làm bôi trơn khi phổi hoạt động làm cho lá thành và lá tạng chuyển động nhịp nhàng. Khi lượng dịch vượt quá chỉ số sinh lý bình thường tức là có sự bài tiết xuất hiện làm ứ đọng dịch trong khoang màng phổi đến một mức độ nhất định sẽ gây tràn dịch màng phổi.
Thực chất của tràn dịch màng phổ là biểu hiện hoặc biến chứng của nhiều loại bệnh khác nhau. Tràn dịch màng phổi có thể do viêm phổi với nhiều căn nguyên đa dạng như: do vi khuẩn họ cầu khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu), vi khuẩn Hemophilus influenzae, K.pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, vi khuẩn lao hoặc ung thư (phổi, di căn) hoặc một số bệnh khác.
Tràn dịch màng phổi không chỉ đơn thuần bệnh lao
Bệnh thường gặp nhất trong tràn dịch màng phổi là lao phổi. Tràn dịch màng phổi cũng có thể do u ác tính (các khối u lồng ngực đè vào ống ngực gây thoát dịch dưỡng trấp ra màng phổi) hoặc ung thư phổi. 
Một số bệnh như: áp-xe dưới cơ hoành, áp- xe gan, xơ gan cổ trướng, viêm tuỵ tạng, viêm màng ngoài tim, suy tim sung huyết hoặc một số bệnh mạn tính như thấp khớp mạn hoăc luput ban đỏ cũng có thể gây nên tràn dịch màng phổi. Tràn dịch màng phổi có thể do u nang buồng trứng ở nữ giới (hội chứng Meigs).
Chấn thương lồng ngực hoặc sau phẫu thuật lồng có thể gặp tràn dịch màng phổi tuy rằng tỉ lệ gặp rất hiếm. Ngoài ra, tràn dịch màng phổi có thể do một số bệnh bởi ký sinh trùng gây nên (lỵ amíp, giun chỉ, sán lá gan).
Nhận biết tràn dịch màng phổi
Đau ngực là triệu chứng khởi đầu của tràn dịch màng phổi. Đau thường âm ỉ phía bên tràn dịch, nếu nằm nghiêng về phía bên đối diện thì sẽ đau tăng lên. Khó thở cũng là một triệu chứng thường gặp. Khó thở xuất hiện và mức độ khó thở tùy thuộc vào số lượng và tốc độ dịch tiết ra. Người bệnh có thể sốt. Sốt thường biểu hiện của triệu chứng nhiễm trùng và là phản ứng của cơ thể. 
Nếu tràn dịch màng phổi xẩy ra ở người có tuổi, sức yếu hoặc bệnh hiểm nghèo thì thân nhiệt tăng lên không nhiều hoặc có khi không tăng lên (không sốt). Ho khan cũng có thể xuất hiện nhưng ho khan với số lần nhiều hay ít cũng như sốt cao hay sốt vừa còn tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh (viêm phổi do vi sinh vật, lao phổi thì ho nhiều hơn các bệnh như: áp-xe gan, áp-xe cơ hoành…).
Để chẩn đoán, ngoài các triệu chứng lâm sàng thì cần chụp X-quang phổi, hoặc chụp CT, cộng hưởng từ (MRI) phổi, gan mật và các cơ quan nghi bị bệnh gây tràn dịch màng phổi. Hiện nay, siêu âm là một phương pháp khá phổ biến để phát hiện tràn dịch màng phổi. 
Nếu có điều kiện thì cần chọc dò màng phổi để xét nghiệm, quan sát màu sắc, tính chất của dịch tiết và xét nghiệm tế bào học, vi sinh, ký sinh. Xét nghiệm dịch màng phổi cũng có thể tìm thấy hồng cầu trong đó, nếu có hồng cầu có thể là nguyên nhân do ung thư phổi hoặc sau nhồi máu phổi. Trong những trường hợp cần thiết, người ta cần phải sinh thiết màng phổi để xác định nguyên nhân.
Nguyên tắc điều trị và dự phòng
Tràn dịch màng phổi có nhiều bệnh khác nhau, trong đó có những bệnh rất phức tạp như ung thư phổi, u ác tính các cơ quan lân cận, xơ gan, suy tim, suy thận. Vì vậy, khi thấy đau tức ngực, khó thở, sốt và các bất thường khác…cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt, nhất là ở người tuổi đã cao, sức khỏe đã suy giảm hoặc đã có tiền sử mắc các bệnh về phổi (lao phổi, viêm phổi, gãn phế quản), bệnh gan, bệnh tim. 
Mỗi một loại bệnh khi xác định được và điều trị thì hầu hết bệnh sẽ ổn định, khỏi. Tuy vậy, sau tràn dịch màng phổi còn phải được theo dõi và điều trị tránh dày dính màng phổi ảnh hưởng rất lớn đến chức năng hô hấp. Hiện nay việc điều trị tràn dịch màng phổi có nhiều tiến bộ với kỹ thuật phẫu thuật nội soi.
Những người đang mắc bệnh lao thì cần điều trị thật tích cực, tuân thủ theo chỉ định điều trị của bác sĩ, không nên chủ quan, không được bỏ thuốc đang điều trị và cần có chế độ dinh dưỡng cũng như tập luyện một cách hợp lý để giữ gìn và nâng cao sức khỏe chống lại bệnh tật. Những người đã từng mắc bệnh lao đã điều trị khỏi cũng rất cần đi khám bệnh theo định kỳ để được theo dõi một cách nghiêm túc đề phòng bệnh tái phát.
Để tránh mắc các bệnh về phổi, áp-xe gan do vi khuẩn hoặc do ký sinh trùng thì cần có một môi trường sống tốt. Vì vậy, cần thực hiện vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Cần ăn chín, uống chín, không ăn các loại thực phẩm chưa nấu chín (tiết canh, gỏi cá, nem chua, nem chạo, rau sống). Không hút thuốc lá để phòng các bệnh về đường hô hấp. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần vệ sinh họng, miệng, răng thật sạch hàng ngày bằng hình thức đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy

BV Nhi Đồng 2 hướng dẫn phòng bệnh cho trẻ vào mùa mưa

Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như ho, khò khè, sốt, nôn ói, chảy máu mũi, bú kém...phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế để được điều trị kịp thời.

Sau một thời gian nắng nóng kéo dài, nước ta đang bước vào mùa mưa. Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện cho siêu vi, vi khuẩn, nấm... phát triển. Hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện nên rất dễ mắc bệnh.
 
Sự thay đổi khí hậu làm gia tăng các bệnh lý đường hô hấp,đặc biệt là viêm mũi dị ứng, hen suyễn. Trẻ thường có các triệu chứng như ho, sỗ mũi trong hoặc đục, ngứa mũi, hắt hơi, khò khè, sốt, nặng hơn trẻ có thể có biểu hiện tím tái, khó thở... Tỉ lệ trẻ mắc bệnh tay chân miệng, thủy đậu cũng bắt đầu tăng, trẻ thường có các biểu hiện sốt nhẹ hoặc cao, nổi hồng ban bóng nước, ăn uống kém.
 
Ngoài ra, khí hậu ẩm ướt tạo điều kiện cho muỗi sinh sản nhiều, từ đó làm gia tăng các bệnh lý do muỗi truyền đặc biệt là sốt xuất huyết. Trẻ thường có biểu hiện sốt cao 2 - 7 ngày, nổi chấm xuất huyết dưới da, chảy máu mũi, máu chân răng, nôn ói, đau bụng, nặng hơn trẻ có thể bị sốc, xuất huyết tiêu hóa, tiết niệu...
Do đó, bậc phụ huynh cần chú ý chăm sóc trẻ và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để hạn chế tối đa sự mắc bệnh cho trẻ :
- Tránh cho trẻ bị ướt mưa, giữ ấm cho trẻ, nhưng không được quấn trẻ quá nhiều làm trẻ khó chịu, tăng thân nhiệt.
- Cung cấp cho trẻ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý. Khuyến khích trẻ lớn năng tập thể dục.
- Rửa tay giúp phòng ngừa được nhiều bệnh lây qua đường phân miệng. Phụ huynh cần phải rửa tay kĩ cũng như tập cho trẻ thói quen rửa tay với xà phòng trước khi ăn, chuẩn bị thức ăn, sau khi đi vệ sinh...
- Giữ nhà ở luôn khô ráo, thoáng mát. Dọn dẹp bụi rậm, ao tù nước đọng, nuôi cá bảy màu diệt lăng quăng... Cho trẻ ngủ mùng kể cả ban ngày.
- Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như ho, khò khè, sốt, nôn ói, chảy máu mũi, bú kém..., phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.