Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Tuyệt chiêu phòng hen phế quản khi thời tiết thay đổi

Tại Việt Nam, hơn 5% dân số tương đương với 4 triệu người bị mắc hen phế quản (hen suyễn). Các ca tử vong do hen phế quản đang tăng nhanh, chỉ đứng sau tử vong do ung thư.

Dấu hiệu nhận biết hen phế quản
Hen phế quản là tình trạng viêm mãn tính đường dẫn khí (phế quản) gây nên phù và chít hẹp đường thở dẫn tới hiện tượng khó thở, khò khè.
Bốn triệu chứng thường thấy nhất bao gồm:
1. Khò khè: tiếng rít thường nghe được khi thở ra; 2. Ho nhiều; 3. Nặng ngực: cảm giác giống như lồng ngực bị bóp chặt; 4. Khó thở: thở nhanh, ngắn và thấy khó khăn, đặc biệt là khi thở ra.
Bệnh nhân chọn mua thuốc hen thảo dược tại hiệu thuốc
Đề phòng hen phế quản khi thời tiết thay đổi
Với bệnh nhân hen phế quản, sức khỏe thường không tốt, sức đề kháng kém. Mỗi khi thay đổi thời tiết, cơ thể khó và chậm thích ứng với sự thay đổi bất thường dẫn đến việc dễ lên cơn hen trong giai đoạn chuyển mùa.
Để hạn chế cơn hen cấp tính tái phát, bệnh nhân hen phế quản cần lựa chọn thuốc điều trị hiệu quả và chú ý chăm sóc sức khỏe bằng cách ăn uống điều độ đủ chất dinh dưỡng, không nên ăn các đồ ăn dễ gây dị ứng với bản thân, không nên uống rượu bia, không nên ăn các chất kích thích, không hút thuốc lào, thuốc lá; tập thể dục đều đặn phù hợp với sức khỏe; tránh các yếu tố kích ứng….
Thuốc điều trị tận gốc hen phế quảng
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân sinh bệnh hen là do công năng của ba tạng Tỳ - Phế - Thận không được điều hòa và suy yếu gây nên, trong đó:
Tạng Phế: Phế có công năng chủ xuất nhập khí. Phế rối loạn làm khí xuất nhập rối loạn gây nên khó thở. Cho nên trong bệnh hen, triệu chứng điển hình dễ thấy là cơn khó thở, khó thở ra, khó thở có chu kỳ, cơn khó thở bùng phát khi gặp các yếu tố kích thích như gió, ẩm, lạnh, bụi, mùi lạ, căng thẳng, mệt nhọc...
Tạng Tỳ: Có chức năng vận hóa, chuyển biến hóa thức ăn. Khi bị ẩm thấp, hay lo nghĩ quá nhiều làm rối loạn công năng của tỳ. Chức năng chuyển hóa thức ăn của Tỳ rối loạn sẽ sinh đờm. Đờm dừng ở phế sẽ làm tắc nghẽn gây khó thở.
Tạng Thận: Chủ nạp khí. Công năng thận rối loạn cơ thể yếu từ lúc mới sinh. Thận không nạp khí nên khí ngược lên gây khó thở. Thận chủ thủy, thủy suy thì không sinh được huyết mà lại sinh đờm.
Đúc kết kinh nghiệm trăm năm y học cổ truyền, thuốc hen thảo dược đã được bào chế thành công dưới dạng cao lỏng - chai 250ml, điều trị hen phế quảnTẬN GỐC theo nguyên lý của y học cổ truyền.
Theo đó, các vị thuốc trong thuốc hen thảo dược có tác dụng nâng cao chức năng các tạng Tỳ - Phế - Thận bị suy yếu một cách dần dần, cân bằng và điều hòa chức năng giữa 3 tạng,giúp các kháng thể tự nhiên sinh ra, sức đề kháng của cơ thể được cải thiện rõ rệt. Phế quản không sinh đờm, hết viêm và phù nề. Số lần lên cơn khó thở thưa hơn và cơn hen nhẹ dần, từ đó không tái phát.
Thuốc hen thảo dược được bào chế dạng cao lỏng - chai 250ml, hàm lượng dược liệu cao, an toàn, hạn chế tác dụng phụ và không gây nhờn thuốc, hiệu quả cao trong điều trị, đặc biệt là với bệnh nhân hen mãn tính, có tiền sử mắc bệnh hen lâu năm.
Thuốc hen thảo dược là THUỐC ĐIỀU TRỊ hen phế quản được bộ Y tế cấp phép, không phải thực phẩm chức năng.
Phác đồ điều trị hen phế quản bằng thuốc hen thảo dược
Một đợt điều trị của thuốc hen thảo dược kéo dài từ 8-10 tuần. Sau thời gian điều trị bằng thuốc hen thảo dược 4 tuần, bệnh nhân sẽ thấy cơn hen thưa và nhẹ dần, đờm loãng và tống xuất ra ngoài, ho giảm, phế quản thông thoáng và dễ thở hơn. Công năng tỳ vị được cải thiện giúp bệnh nhân ăn ngon, ngủ ngon và yên giấc hơn, đặc biệt là thời điểm về đêm, khoảng 2-3 giờ sáng. Trong thời gian này, nếu còn xuất hiện các cơn khó thở kịch phát, bệnh nhân có thể dùng thuốc Tây để cắt cơn.
Khi điều trị đủ đợt (8-10 tuần), bệnh nhân KHÔNG còn lên cơn hen, khỏe mạnh hơn, có thể tham gia lao động và sinh hoạt bình thường, cảm thấy yên tâm trước những thay đổi của thời tiết và các tác nhân gây cơn hen kịch phát khác.Kết quả điều trị này được duy trì lâu dài.
Với trường hợp bệnh nặng có thể điều trị từ 2-3 đợt.
Thuốc hen thảo dược được nhiều bác sỹ và bệnh nhân tin dùng trong điều trị TẬN GỐC hen phế quản.

Cách chữa viêm họng, ho có đờm không cần dùng thuốc

Cách chữa viêm họng, ho có đờm không cần dùng thuốc. Dưới đây là một số cách chữa ho, viêm họng bằng Đông y hiệu quả nhưng ít người biết đến.

1. Chữa ho có đờm, trẻ em nôn trớ:

Dùng 2 – 3 lá xương sông bánh tẻ, 5 thìa mật ong. Lá xương sông rửa sạch, thái nhỏ, cho vào bát hấp cùng mật ong (để sôi chừng 10 phút).

Chắt nước cho trẻ uống làm nhiều lần trong ngày. Người lớn nhai nuốt cả lá rất tốt.

2. Trị ho ở trẻ em:

Lấy 10 gr hạt chanh, 15 gr lá hẹ, 15 gr hoa đu đủ đực, đem nghiền nát tất cả rồi trộn với 20 ml nước, thêm mật ong hoặc đường kính, chia uống ba lần trong ngày.

Cách chữa viêm họng, ho có đờm không cần dùng thuốc

3. Trị viêm họng: Lấy thân, lá cây rau dền gai rửa thật sạch, 1 – 3 lát gừng tươi, ít muối, nhai nuốt nước dần. Ngày dùng 1 – 2 lần.

4. Chữa ho có đờm: Lấy 50 – 100 gr thân lá cây rau dền gai rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước uống.

Tràn dịch màng phổi không chỉ đơn thuần bệnh lao

Tràn dịch màng phổi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ngay cả trẻ em, nhưng với người cao tuổi thường để lại hậu quả xấu nặng nề hơn. Vì vậy, cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Ở Mỹ, hàng năm có khoảng xấp xỉ một triệu trường hợp tràn dịch màng phổiđược phát hiện; ở nước ta hàng năm có khoảng 1.000 trường hợp được chẩn đoán và can thiệp.
Nhiều nguyên nhân
Màng phổi gồm lá thành và lá tạng, giữa hai lá có khoảng trống. Bình thường trong khoảng trống có một ít dịch sinh lý để làm bôi trơn khi phổi hoạt động làm cho lá thành và lá tạng chuyển động nhịp nhàng. Khi lượng dịch vượt quá chỉ số sinh lý bình thường tức là có sự bài tiết xuất hiện làm ứ đọng dịch trong khoang màng phổi đến một mức độ nhất định sẽ gây tràn dịch màng phổi.
Thực chất của tràn dịch màng phổ là biểu hiện hoặc biến chứng của nhiều loại bệnh khác nhau. Tràn dịch màng phổi có thể do viêm phổi với nhiều căn nguyên đa dạng như: do vi khuẩn họ cầu khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu), vi khuẩn Hemophilus influenzae, K.pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, vi khuẩn lao hoặc ung thư (phổi, di căn) hoặc một số bệnh khác.
Tràn dịch màng phổi không chỉ đơn thuần bệnh lao
Bệnh thường gặp nhất trong tràn dịch màng phổi là lao phổi. Tràn dịch màng phổi cũng có thể do u ác tính (các khối u lồng ngực đè vào ống ngực gây thoát dịch dưỡng trấp ra màng phổi) hoặc ung thư phổi. 
Một số bệnh như: áp-xe dưới cơ hoành, áp- xe gan, xơ gan cổ trướng, viêm tuỵ tạng, viêm màng ngoài tim, suy tim sung huyết hoặc một số bệnh mạn tính như thấp khớp mạn hoăc luput ban đỏ cũng có thể gây nên tràn dịch màng phổi. Tràn dịch màng phổi có thể do u nang buồng trứng ở nữ giới (hội chứng Meigs).
Chấn thương lồng ngực hoặc sau phẫu thuật lồng có thể gặp tràn dịch màng phổi tuy rằng tỉ lệ gặp rất hiếm. Ngoài ra, tràn dịch màng phổi có thể do một số bệnh bởi ký sinh trùng gây nên (lỵ amíp, giun chỉ, sán lá gan).
Nhận biết tràn dịch màng phổi
Đau ngực là triệu chứng khởi đầu của tràn dịch màng phổi. Đau thường âm ỉ phía bên tràn dịch, nếu nằm nghiêng về phía bên đối diện thì sẽ đau tăng lên. Khó thở cũng là một triệu chứng thường gặp. Khó thở xuất hiện và mức độ khó thở tùy thuộc vào số lượng và tốc độ dịch tiết ra. Người bệnh có thể sốt. Sốt thường biểu hiện của triệu chứng nhiễm trùng và là phản ứng của cơ thể. 
Nếu tràn dịch màng phổi xẩy ra ở người có tuổi, sức yếu hoặc bệnh hiểm nghèo thì thân nhiệt tăng lên không nhiều hoặc có khi không tăng lên (không sốt). Ho khan cũng có thể xuất hiện nhưng ho khan với số lần nhiều hay ít cũng như sốt cao hay sốt vừa còn tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh (viêm phổi do vi sinh vật, lao phổi thì ho nhiều hơn các bệnh như: áp-xe gan, áp-xe cơ hoành…).
Để chẩn đoán, ngoài các triệu chứng lâm sàng thì cần chụp X-quang phổi, hoặc chụp CT, cộng hưởng từ (MRI) phổi, gan mật và các cơ quan nghi bị bệnh gây tràn dịch màng phổi. Hiện nay, siêu âm là một phương pháp khá phổ biến để phát hiện tràn dịch màng phổi. 
Nếu có điều kiện thì cần chọc dò màng phổi để xét nghiệm, quan sát màu sắc, tính chất của dịch tiết và xét nghiệm tế bào học, vi sinh, ký sinh. Xét nghiệm dịch màng phổi cũng có thể tìm thấy hồng cầu trong đó, nếu có hồng cầu có thể là nguyên nhân do ung thư phổi hoặc sau nhồi máu phổi. Trong những trường hợp cần thiết, người ta cần phải sinh thiết màng phổi để xác định nguyên nhân.
Nguyên tắc điều trị và dự phòng
Tràn dịch màng phổi có nhiều bệnh khác nhau, trong đó có những bệnh rất phức tạp như ung thư phổi, u ác tính các cơ quan lân cận, xơ gan, suy tim, suy thận. Vì vậy, khi thấy đau tức ngực, khó thở, sốt và các bất thường khác…cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt, nhất là ở người tuổi đã cao, sức khỏe đã suy giảm hoặc đã có tiền sử mắc các bệnh về phổi (lao phổi, viêm phổi, gãn phế quản), bệnh gan, bệnh tim. 
Mỗi một loại bệnh khi xác định được và điều trị thì hầu hết bệnh sẽ ổn định, khỏi. Tuy vậy, sau tràn dịch màng phổi còn phải được theo dõi và điều trị tránh dày dính màng phổi ảnh hưởng rất lớn đến chức năng hô hấp. Hiện nay việc điều trị tràn dịch màng phổi có nhiều tiến bộ với kỹ thuật phẫu thuật nội soi.
Những người đang mắc bệnh lao thì cần điều trị thật tích cực, tuân thủ theo chỉ định điều trị của bác sĩ, không nên chủ quan, không được bỏ thuốc đang điều trị và cần có chế độ dinh dưỡng cũng như tập luyện một cách hợp lý để giữ gìn và nâng cao sức khỏe chống lại bệnh tật. Những người đã từng mắc bệnh lao đã điều trị khỏi cũng rất cần đi khám bệnh theo định kỳ để được theo dõi một cách nghiêm túc đề phòng bệnh tái phát.
Để tránh mắc các bệnh về phổi, áp-xe gan do vi khuẩn hoặc do ký sinh trùng thì cần có một môi trường sống tốt. Vì vậy, cần thực hiện vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Cần ăn chín, uống chín, không ăn các loại thực phẩm chưa nấu chín (tiết canh, gỏi cá, nem chua, nem chạo, rau sống). Không hút thuốc lá để phòng các bệnh về đường hô hấp. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần vệ sinh họng, miệng, răng thật sạch hàng ngày bằng hình thức đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy

BV Nhi Đồng 2 hướng dẫn phòng bệnh cho trẻ vào mùa mưa

Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như ho, khò khè, sốt, nôn ói, chảy máu mũi, bú kém...phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế để được điều trị kịp thời.

Sau một thời gian nắng nóng kéo dài, nước ta đang bước vào mùa mưa. Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện cho siêu vi, vi khuẩn, nấm... phát triển. Hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện nên rất dễ mắc bệnh.
 
Sự thay đổi khí hậu làm gia tăng các bệnh lý đường hô hấp,đặc biệt là viêm mũi dị ứng, hen suyễn. Trẻ thường có các triệu chứng như ho, sỗ mũi trong hoặc đục, ngứa mũi, hắt hơi, khò khè, sốt, nặng hơn trẻ có thể có biểu hiện tím tái, khó thở... Tỉ lệ trẻ mắc bệnh tay chân miệng, thủy đậu cũng bắt đầu tăng, trẻ thường có các biểu hiện sốt nhẹ hoặc cao, nổi hồng ban bóng nước, ăn uống kém.
 
Ngoài ra, khí hậu ẩm ướt tạo điều kiện cho muỗi sinh sản nhiều, từ đó làm gia tăng các bệnh lý do muỗi truyền đặc biệt là sốt xuất huyết. Trẻ thường có biểu hiện sốt cao 2 - 7 ngày, nổi chấm xuất huyết dưới da, chảy máu mũi, máu chân răng, nôn ói, đau bụng, nặng hơn trẻ có thể bị sốc, xuất huyết tiêu hóa, tiết niệu...
Do đó, bậc phụ huynh cần chú ý chăm sóc trẻ và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để hạn chế tối đa sự mắc bệnh cho trẻ :
- Tránh cho trẻ bị ướt mưa, giữ ấm cho trẻ, nhưng không được quấn trẻ quá nhiều làm trẻ khó chịu, tăng thân nhiệt.
- Cung cấp cho trẻ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý. Khuyến khích trẻ lớn năng tập thể dục.
- Rửa tay giúp phòng ngừa được nhiều bệnh lây qua đường phân miệng. Phụ huynh cần phải rửa tay kĩ cũng như tập cho trẻ thói quen rửa tay với xà phòng trước khi ăn, chuẩn bị thức ăn, sau khi đi vệ sinh...
- Giữ nhà ở luôn khô ráo, thoáng mát. Dọn dẹp bụi rậm, ao tù nước đọng, nuôi cá bảy màu diệt lăng quăng... Cho trẻ ngủ mùng kể cả ban ngày.
- Khi trẻ có các biểu hiện bất thường như ho, khò khè, sốt, nôn ói, chảy máu mũi, bú kém..., phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Những “thủ phạm” khiến viêm xoang tái phát

Người bệnh xoang rất nhạy cảm với các tác động của nhiệt độ và độ ẩm trong không khí. Những trường hợp nóng – lạnh đột ngột làm tổn thương miên mạc mũi cho người viêm xoang.


Môi trường bất lợi
Môi trường bất lợi
Theo các bác sĩ chuyên khoa, người bệnh xoang rất nhạy cảm với các tác động của nhiệt độ và độ ẩm trong không khí. Những trường hợp nóng – lạnh đột ngột là một tác nhân rất bất lợi làm tổn thương miên mạc mũi cho người có tiền sử viêm xoang.
Vì vậy, để tránh bệnh tái phát, người bệnh cần luôn luôn giữ ấm vùng mặt và mũi khi trời lạnh và trời mưa. Đối với những bệnh nhân làm việc hoặc sinh hoạt trong môi trường có điều hòa thì cần tránh để mũi đối diện trực tiếp với luồng gió của điều hòa, nên để nhiệt độ trong phòng khoảng 26 độ và có máy phun hơi hoặc một chậu nước để tạo độ ẩm.
Không khí ô nhiễm cũng là một trong những yếu tố kích thích có hại cho xoang mũi, làm tăng khả năng tái phát bệnh. Vì vậy, người bệnh cần phải tránh tiếp xúc hoặc hạn chế tiếp xúc với các tác nhân ô nhiễm như khói thuốc lá, khói bụi, các chất hóa học và các dị nguyên gây dị ứng khác bằng cách đeo khẩu trang khi làm việc hoặc di chuyển.
Đặc biệt, người bệnh cần vệ sinh mũi hàng ngày bằng nước muối sinh lý để loại bỏ những dị nguyên xâm nhập vào mũi.
Những thói quen xấu trong ăn uống và sinh hoạt
Khi làm việc quá sức, lo lắng nhiều, căng thẳng, hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu sẽ rất dễ bị nhiễm trùng. Xoang mũi là cơ quan lọc không khí trước khi đưa vào cơ thể nên có nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất. Vì vậy, sự điều tiết các hoạt động khi làm việc và thể dục đúng mức sẽ giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh, cơ thể điều hòa, tránh bệnh xoang tái phát hiệu quả.
Người bệnh cũng cần có một chế độ ăn khoa học, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Trong đó, nước, rau xanh và trái cây là những thực phẩm rất tốt cho người bệnh xoang. Uống nhiều nước sẽ làm miên dịch loãng hơn giúp sự dẫn lưu của mũi xoang tốt hơn, tránh được sự ứ đọng bụi bẩn và vi khuẩn. Còn trái cây và rau xanh lại cung cấp cho cơ thể nhiều chất chống oxy hóa và vitamin, giúp hệ miễn dịch của cơ thể khỏe mạnh.
Ngoài ra, người bệnh nên tránh các thực phẩm hoặc đồ uống làm mềm miên mạc mũi xoang gây phù nề khiến xoang dễ tái lại như bia, rượu, thuốc lá, đồ lạnh, đồ cay, đồ nóng….
Bên cạnh đó, để tránh tái phát hiệu quả, người bệnh xoang có thể sử dụng các loại thuốc Nam được bào chế từ các thảo dược như tân di, bạch chỉ, phòng phong, thăng ma…. với liều phòng ngừa và khoảng cách mỗi đợt uống là từ 3-4 tháng.
Đặc biệt, khi bị cảm cúm, cảm lạnh, dị ứng…, nên tích cực điều trị các triệu chứng ngạt mũi, sổ mũi… của các bệnh này nhằm tránh xoang mũi tái phát do bội nhiễm bằng các loại thuốc xịt mũi và thuốc uống đặc trị. Để an toàn và tránh các tác dụng không mong muốn, người bệnh nên sử dụng các loại thuốc xịt có thành phần từ các loại thảo dược như tân di hoa, thương nhĩ tử hoặc ngũ sắc.
Ngoài ra, người bệnh phải xì mũi thường xuyên, tránh để có dịch nhầy trong mũi gây nhiễm khuẩn và không ngoáy mũi làm tổn thương miên mạc mũi, vỡ mạch máu, chảy máu mũi.

Tại sao trẻ lại ho khan?

Nhiều cha mẹ thường đưa trẻ đi đến bệnh viện khám họng vì trẻ bị khó chịu, ngứa, bị tắc ở họng. Tại sao trẻ bị như vậy.

Bệnh húng hắng ho khan ở cổ họng thường xuất hiện ở trẻ trước tuổi đi học hoặc đang học tiểu học. Chứng bệnh nay không phát sinh khi trẻ đang tập trung tư tưởng nhưng khi nghe kể chuyện, nghe giảng bài, xem phim, ăn cơm hay ngủ mà chỉ xuất hiện khi trẻ không làm gì.
Điều này khiến cho các bậc cha mẹ lo lắng, cho rằng họng trẻ đang có vấn đề. Khám kỹ, các bác sĩ thấy có thể trẻ bị sưng amiđan, tuyến limpha ở cuống họng phát triển mạnh, có thể bị viêm mũi mãn tính, có thể bị viêm xong mũi…
Vậy bệnh này phát sinh như thế nào? Xét kỹ tiền sử mắc bệnh, hầu hết tất các trẻ mắc bệnh đều đã từng bị viêm họng mãn tính, viêm amiđan hoặc nhiễm trùng đường hô hấp trên. Khi đó, trẻ thường sốt, đau họng, tắc họng, ho… Sau khi bệnh viêm đã chữa khỏi, trẻ có thói quen xấu là hay ho khan. Tất nhiên, cũng có một số trẻ ho khan do nước mũi chảy vào họng khi chúng bị viêm xoang.

 Ảnh minh họa
Nhiều trẻ thường hay bị ho khan. Ảnh minh họa.


Thế nào là ho khan?

Ho khan thường gây ngứa họng và không có đờm nếu ho kéo dài có thể gây khàn giọng hoặc mất giọng. Có rất nhiều nguyên nhân gây ho khan có thể là do dị ứng với môi trường như: hít phải những mẩu vụn thực phẩm, các loại khói bụi gây kích thích ( khói thuốc, khói than, mùi hóa chất) hoặc có thể phản ứng của cơ thể khi thời tiết thay đổi đột ngột. Bên cạnh đó, ho khan có thể là do tình trạng mới nhiễm virus, do cúm hay cảm lạnh, hen phế quản, trào ngược dạ dày, thực quản, ….

Với bệnh nhân ho khan do các nguyên nhân dị ứng với môi trường thường vẫn cảm thấy khỏe mạnh, không có cảm giác nặng ngực và khó thở. Với trường hợp bệnh nhân ho do nhiễm virut, cảm lạnh, hen phế quản… bệnh nhân ho khan nếu không được điều trị ho sẽ có cảm giác tức ngực và cơn ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân nghẹt thở và khó thở, mệt lả. Vì vậy, để biết chính xác nguyên nhân ho và có phương pháp điều trị thích hợp, chị cần đến cơ sở y tế để khám.

Ngoài ra, cần uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô có các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, về đêm trời lạnh cần giữ ấm cổ, ngực. Ăn hoa quả, uống nước cam,… để nâng cao sức đề kháng.

Phương pháp điều trị:Điều trị tích cực cho trẻ bị viêm xoang mũi và viêm mũi mãn tính. Còn những trẻ bình thường cần nghiêm khắc nhắc nhở chúng hiểu ho khan là thói quen xấu, họng trẻ không có vấn đề gì. Tất nhiên, đôi khi cũng cần dùng thuốc nhỏ mũi, viên ngậm.. để điều trị hỗ trợ.

Khí công hỗ trợ điều trị hen suyễn

Tập khí công hỗ trợ điều trị bệnh hen suyễn nhờ làm sạch chất nhầy, cải thiện chức năng hô hấp.


Tập khí công giúp hỗ trợ điều trị  bệnh hen suyễn. Ảnh minh họa: internet
BS Lê Văn Vĩnh - Huấn luyện viên Câu lạc bộ Khí công TP.HCM cho biết, theo Tây y, hen là tình trạng các phế quản bị hẹp do viêm nhiễm mạn tính, không khí qua đó trở nên khó khăn vì sự co thắt của các cơ ở thành phế quản, sưng và phù nề lớp niêm mạc của phế quản, tiết nhiều chất nhầy vào trong lòng các phế quản. Còn theo Đông y, hen là do cơ thể bị nội nhiệt hay ngoại nhiệt; cơ thể suy nhược.
Những bệnh nhân kiểm soát cơn hen kém, sau khi vận động thể lực có thể làm tái phát cơn hen. Triệu chứng gồm ho, khò khè, thở ngắn, đau ngực, mệt.
Tế bào mastocyte có vai trò quan trọng trong cơ chế dị ứng, nằm sâu trong niêm mạc mũi, kết mạc, cạnh các mạch máu và tế bào sản sinh ra dịch nhầy. Khi gắng sức, tế bào mastocyte bị vỡ, giải phóng hàng loạt các chất trung gian gây co thắt phế quản, gây phù nề các mô ở đường hô hấp và làm cho khó thở. 
Để phòng ngừa cơn hen suyễn khi vận động, người tập nên chọn những môn thật nhẹ nhàng như đi bộ, khí công, thể dục nhịp điệu... Trong đó, khí công được xem là một môn có thể chữa khỏi bệnh nếu bệnh nhân biết vận dụng vừa luyện tập, vừa điều trị.
Lý giải vì sao khí công có thể chữa được bệnh hen suyễn, BS Lê Văn Vĩnh cho biết, hô hấp đóng vai trò quan trọng trong khí công. Hít thở trong khí công không giống thở bình thường (hít oxy, thải khí cacbonic) mà là điều hòa, phát huy và tích lũy hai loại khí nói trên thành chân khí để theo các kinh mạch đi nuôi cơ thể, có tác dụng chữa bệnh một cách kỳ diệu.
Tập khí công sẽ giúp kiểm soát nhịp thở, giúp quân bình âm dương hệ thực vật, làm cơ thể thích nghi môi trường và làm hưng phấn thần kinh đối giao cảm... nên dù có chất dị ứng (các yếu tố gây hen) cũng không thể kích thích thần kinh phế vị, không gây hen suyễn. Ngoài ra, thở trong khí công chủ yếu là thở bụng, làm máu dồn vào vùng bụng và lưng, cơ hoành ở vùng này cũng chuyển động liên tục làm gia tăng lưu thông khí ở phổi.
Cách thở trong khí công: hít vào bằng mũi, phình bụng, thở ra bằng mũi, hóp bụng lại, lưỡi đặt trên vòm họng suốt hai kỳ thở với tiêu chuẩn chậm, nhẹ, sâu, dài, tự nhiên.
“Hiện trên thị trường có nhiều loại sách, đĩa hướng dẫn tập khí công. Sẽ rất nguy hiểm và gây ra nhiều tác dụng phụ nếu tự luyện tập, bởi khí công là sự kết hợp giữa động tác và hơi thở. Người tập trước tiên phải thuần thục động tác thì mới có thể kết hợp với hơi thở. Trong giai đoạn đầu đến giai đoạn trung cấp (ba năm), phải có chuyên gia hướng dẫn cả lý thuyết và thực hành. Riêng những người bị hen suyễn, cần phải có ý kiến của BS chuyên môn và hướng dẫn của chuyên gia” - BS Lê Văn Vĩnh khuyến cáo.