Hiển thị các bài đăng có nhãn Cách trị ho. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cách trị ho. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Tại sao hút thuốc mà vẫn khoẻ mạnh?

Thực tế cho thấy người hút thuốc mắc phải những căn bệnh về phổi, nhưng không phải ai cũng thế, và cũng có những người không hút thuốc lại vẫn mắc bệnh.



Câu hỏi này được các nhà nghiên cứu Anh trả lời bằng cách phân tích hơn 50.000 tình nguyện viên, qua đó cho thấy có những đột biến thuận lợi trong DNA người đã làm tăng chức năng phổi và che đậy những tác động chết người của việc hút thuốc. Theo hội đồng Nghiên cứu y học Anh quốc, phát hiện mới này có thể dẫn đến việc tìm được những loại thuốc mới giúp cải thiện chức năng phổi. Thực tế cho thấy người hút thuốc mắc phải những căn bệnh về phổi, nhưng không phải ai cũng thế, và cũng có những người không hút thuốc lại vẫn mắc bệnh.
Trong nghiên cứu, các nhà khoa học Anh quan sát căn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), so sánh người hút thuốc và không hút thuốc, cũng như người có bệnh và không có bệnh COPD, và họ khám phá được những đoạn DNA có khả năng làm giảm nguy cơ COPD.
Ở những người hút thuốc có "gen tốt", họ có nguy cơ mắc COPD ít hơn so với người có "gen xấu". GS Martin Tobin, một trong những nhà nghiên cứu của đại học Leicester, nhận xét, và ông cho rằng các gen dường như ảnh hưởng đến cách thức phổi tăng trưởng và đáp ứng với tổn thương.
Nhưng ông nói: "Dù một số người có được những đoạn gen bảo vệ, nhưng phổi của họ vẫn được xem là có vấn đề so với người không hút thuốc. Giải pháp tốt nhất để tránh các bệnh COPD, ung thư và bệnh tim mạch vẫn là ngưng hút thuốc". Những phát hiện thú vị này được trình bày tại một hội nghị của hiệp hội Hô hấp châu Âu và công bố trên tạp chí Lancet Respiratory Medicine.
TS Ian Jarrold, hiệp hội Hô hấp châu Âu, nói: "Hiểu biết về di truyền là cần thiết, không chỉ giúp chúng ta phát triển được những phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân mà còn dạy cho những người khoẻ làm thế nào chăm sóc lá phổi của họ tốt nhất".




Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Tác hại khôn lường khi lạm dụng viên ngậm trị ho

Viên ngậm trị ho với vị ngọt và hương thơm hấp dẫn khiến nhiều người hay gọi là "kẹo" và sử dụng chúng một cách không thích hợp có thể gây ra những tác hại đối với sức khỏe.

Viên ngậm ho được quảng cáo rất công hiệu chữa dứt các cơn ho, kiểm soát hữu hiệu các cơn ho, ức chế trung tâm gây ho… với hương thơm và vị ngọt hấp dẫn khiến nhiều người quen gọi là "kẹo" và lạm dụng nó. Tuy nhiên, việc này có thể dẫn đến những tác hại khôn lường mà ít người biết.
Thuốc viên ngậm trị ho thường chứa các hoạt chất như tinh dầu bạc hà (menthol), tinh dầu tràm (eucalyptol) hoặc chứa dược chất ức chế phản xạ ho như dextromethorphan... Có cả thuốc viên ngậm đông y như bổ phế ngậm. Thuốc viên ngậm có vị ngọt nhờ có tá dược làm ngọt là đường mía (saccharose) hoặc chất làm ngọt nhân tạo (như aspartam) dành cho người kiêng đường hay người bệnh tiểu đường, theo Người Lao Động.
Hiện có rất nhiều loại viên ngậm ho khác nhau, thậm chí còn có những loại có các hương vị hấp dẫn. Vì sự tiện lợi nên nhiều người lựa chọn và lạm dụng nó. Tuy nhiên, viên ngậm ho chứa những chất sát trùng họng có công dụng làm dịu cơn ho, dịu thanh quản, giúp sát trùng đường hô hấp, hỗ trợ điều trị các chứng ho, đau họng, khản giọng… chứ không có tác dụng chữa ho hay trị triệt để cơn ho. Việc lạm dụng loại kẹo ngậm này có hại cho sức khỏe. Các vị hoa quả cũng chỉ là hương liệu đưa vào để thơm ngon, bắt mắt và dễ dùng.
Lạm dụng viên ngậm ho có thể gây ra những tác hại khôn lườngLạm dụng viên ngậm ho có thể gây ra những tác hại khôn lường
Không ít trường hợp bệnh tăng nặng do tự mua các loại viên ngậm ho hay dùng loại sirô ho uống. Ho có rất nhiều nguyên nhân gây nên nhưng thường gặp là do cảm lạnh, mắc các bệnh đường hô hấp như viêm mũi họng, viêm amiđan, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi… Để điều trị dứt bệnh phải tìm được nguyên nhân gây ho.
Một số chuyên gia khuyên chỉ cần giữ ấm, dinh dưỡng đầy đủ chất, uống nước nhiều hơn, đặc biệt là nước cam hoặc nước chanh để tăng sức đề kháng thì có khả năng tự khỏi sau một vài ngày và không cần dùng thuốc. Có thể sử dụng một số phương pháp chữa trị từ thiên nhiên để hạn chế tác dụng phụ mà vẫn giảm ngứa họng và ho như gừng, mật ong, ô mai, cam thảo…Với mật ong, có thể kết hợp với lá hẹ, vỏ quýt, quất nguyên vỏ xanh, lá húng chanh, hoa hồng bạch… hấp cách thủy, uống hoặc ngậm đều cho tác dụng tốt trong việc trị ho.
Trong trường hợp dùng thuốc viên ngậm trị ho (chỉ dùng cho người lớn và trẻ tương đối lớn) nên lưu ý, trước và sau khi đưa thuốc vào miệng, cần rửa tay sạch; ngậm cho thuốc tan từ từ, tránh nhai viên thuốc. Đối với trẻ nhỏ, cần lưu ý khi cho trẻ sử dụng viên ngậm ho, tốt nhất không nên cho dùng vì trẻ có nguy cơ bị sặc, theo Zing News.


Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Chế độ dinh dưỡng tốt cho bệnh nhân lao phổi

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân lao phổi đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ điều trị tăng cường sức đề kháng và phục hồi các tổn thương cơ thể.

Chế độ dinh dưỡng tốt cho bệnh nhân lao phổi:

Ở bệnh nhân lao phổi, tình trạng thiếu dinh dưỡng gây tổn hại cho họ rất nhiều hơn những người khác. Khi thiếu dinh dưỡng sẽ dẫn đến cơ hô hấp giảm gây ra nhiều hệ lụy như suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, làm tăng nguy cơ bội nhiễm và bệnh chậm phục hồi. Vì vậy chế độ dinh dưỡng khi chăm sóc người bệnh lao phổi quyết định khả năng hồi phục bệnh rất cao.

Khẩu phần ăn đa dạng tốt cho bệnh nhân lao phổi

Khi chăm sóc người bệnh lao phổi bạn cần biết nhu cầu dinh dưỡng ở bệnh nhân lao cao hơn bình thường nhằm bù bắp cho quá trình chống đỡ bện tật và tái tạo tổ chức bị thương tổn. Vì vậy cần cung cấp cho người bệnh thêm khoảng  300 Kcal mỗi ngày, tương tương một chén cơm đủ thức ăn. Khẩu phần ăn của người bệnh cần đa dạng và có đủ các nhóm thực phẩm chính như tinh bột , protein, lipid, vitamin và muối khoáng.
Chế độ dinh dưỡng tốt cho bệnh nhân lao phổi (Ảnh minh họa)Chế độ dinh dưỡng tốt cho bệnh nhân lao phổi (Ảnh minh họa)
Rau quả và chữa chua tốt cho bệnh nhân lao phổi
Cho bệnh nhân ăn nhiều rau quả, sữa chua là rất hữu ích khi chăm sóc người bệnh lao phổi .Phải dùng thuốc điều trị hằng ngày nên đa số các bệnh nhân lao phổi đều bị rối loạn ruột khuẩn, rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón, buồn nôn. Ăn nhiều rau, trái cây, khoai lang, rau lang có thể làm giảm triệu chứng này. Sữa chua giúp ổn định hệ vi khuẩn trong đường tiêu hóa, do đó sẽ giải quyết được vấn đề táo bón và tiêu chảy.
Vi chất dinh dưỡng tốt cho bệnh nhân lao phổi
Vi chất dinh dưỡng là một yếu tố không thể thiếu trong khẩu phần ăn khi chăm sóc người bệnh lao phổi. Các loại Vitamin A, E, C, selen, kẽmcó khả làm tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể và chống oxy hóa. Các vi chất trên có nhiều trong thuốc hoặc rau, hoa quả, giá đỗ, gan gia cầm, gia súc, thịt, cá biển.
Vitamin K tốt cho bệnh nhân lao phổi
Ở bênh nhân lao phổi, thiếu vitamin K làm tăng nguy cơ xuất huyết. Khi chăm sóc người bệnh lao phổi cần tăng cường vitamin K qua thực phẩm như, rau xanh, dầu thực vật, gan cũng có thể uống hoặc tiêm vitamin K theo chỉ định của bác sĩ.



Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Thuốc chống ho có gây nguy hiểm?

Thuốc ho, loại thuốc vẫn được nhiều người coi như những thuốc thông thường tự mua tự uống, có biên độ an toàn vô hạn. Trên thực tế, nếu không cẩn trọng, chúng ta có thể gặp nguy hiểm.

Ho tốt hay không tốt?
Ho là một phản xạ đẩy hơi mạnh từ trong phổi qua miệng ra ngoài. Đây là một phản xạ tự nhiên của cơ thể nói chung và của đường hô hấp nói riêng. Nhưng chúng ta vẫn thường "sợ" ho, bởi nó như là một biểu hiện rõ rệt của những bệnh liên quan đến hô hấp. 
Và bởi hầu như những người nào bị bệnh hô hấp cũng đều thấy ho. Chính vì thế mà ho luôn luôn được coi là mục tiêu khống chế hàng đầu của bệnh nhân đi khám và cũng là một trong các mục tiêu điều trị của bác sĩ.
Tuy nhiên, có một điều thú vị ở đây, ho hoàn toàn không phải là tệ hại đến mức phải triệt tiêu. Thậm chí còn có thể nói rằng, ho, về đúng nghĩa là một phản xạ bảo vệ hữu hiệu của đường hô hấp. Bởi ngoài chức năng làm ấm và làm ẩm không khí, đường hô hấp còn thực hiện chức năng lưu thông khí thở đi vào trong phổi. Muốn thực hiện được chức năng thiên bẩm này, chúng cần phải được thông thoáng, nghĩa là không bị chít hẹp, cản trở hay tắc nghẽn. Có như vậy không khí mới dễ dàng đi ra đi vào.
Nhưng nếu chẳng may gặp phải một sự cố nào đó, chẳng hạn như hạt bụi lớn hay cục đờm to trong phế quản, ngay lập tức đường khí đạo sẽ bị cản trở. Chính điều này đã kích thích tạo nên một phản xạ ho đẩy hơi mạnh vào vật cản. Sự đẩy hơi này mạnh đến nỗi, vật cản có thể bị bật ra ngoài dù nó có ở sâu đến mấy đi chăng nữa. 
Như thế là, trên nguyên tắc ho chính là giúp đường thở lấy lại sự thông thoáng cần thiết của nó. Nếu không có phản xạ ho và các cấu trúc đặc thù khác, có lẽ đường thở đã bị bít đầy bụi khi cơ thể mới đến tuổi 30.
Ở một mức độ nhất định, ho quả thực là tốt vì giúp đường thở của chúng ta thông thoáng và sạch sẽ. Nhưng nếu ở một mức độ quá mức thì lại gây ra nhiều tác hại. Các tác hại có thể kể ra đây là mệt, mất ngủ, rát họng, phù nề dây thanh âm. 
Nhưng có lẽ tác hại không dễ chịu nhất chính là làm vỡ các mao mạch gây chảy máu hô hấp, nhất là những mao mạch đang bị phù nề hay bị tổn thương của một quá trình viêm bệnh lý. Thật đáng ngại là trong các bệnh lý đường hô hấp, ho lại rất dễ phản ứng quá mức cần thiết. Lúc này cần khống chế ho và các thuốc chống ho ra đời.
Thuốc chống ho có gây nguy hiểm?
Lạm dụng thuốc chống ho có thể gây nguy hiểm.
Có bao nhiêu loại thuốc chống ho?
Để thực hiện phản xạ ho cần 5 thành phần tối thiết bao gồm: thụ cảm thể ho, dây thần kinh hướng tâm, trung khu điều khiển ho, dây thần kinh ly tâm và các cơ hô hấp. Trong các bộ phận này, các thụ cảm thể có vai trò nhận cảm khi nào đường thở bị tắc nghẽn để tạo ra những xung động thần kinh khởi động một quá trình gây ho và trung khu điều khiển ho có nhiệm vụ tạo ra một phản xạ ho khi cần thiết. Đây là hai bộ phận có ý nghĩa nhất trong cơ chế gây bệnh và cũng có ý nghĩa nhất trong điều trị lâm sàng.
Để nhằm thực hiện khống chế ho hiệu quả về mặt điều trị, hiện nay, tất cả các thuốc chống ho đều "đánh" vào một trong hai bộ phận: các thụ cảm thể ho và các trung khu điều khiển ho. Những thuốc tác động vào các thụ cảm thể ho được gọi là những thuốc ức chế ho ngoại biên, bản chất là gây tê đầu dây thần kinh nhận cảm làm chúng không còn khả năng nhận cảm được nữa. Do đó, phản xạ ho không được khởi động. Đại diện của nhóm này có benzonatat.
Còn các thuốc chống ho tác động vào trung khu ho thì được gọi là các thuốc ức chế ho trung ương vì nó ức chế trung khu ho ở não (chính xác là hành não) để không tạo ra một phản ho nào. Lúc này, mặc dù cơ quan thụ cảm liên tục gửi những xung động ho về trung tâm nhưng trung khu trung ương không hề tiếp nhận và không ra một mệnh lệnh ho nào đáp ứng lại. Đại diện của nhóm này có codein, dextromethorphan, alimemazine (theraten) (những thuốc này hay sử dụng), pholcodin, clocinizin…
Xét về phương diện điều trị, những thuốc ức chế ho trung ương có tác dụng kiểm soát ho mạnh hơn những thuốc ức chế ho ngoại vi vì nó có tác dụng ức chế hoàn toàn trung khu đầu não của ho. Do vậy nó bất hoạt và kiểm soát được tất cả mọi loại ho, ngay cả khi đó là những cơn ho mạnh nhất, làm triệt tiêu hoàn toàn những cơn ho này. 
Trong khi đó, ở những trường hợp nặng, các thuốc ức chế ho ngoại vi không thể kiểm soát được các cơn ho của người bệnh, vì chúng không thể bất hoạt được tất cả những xung động gây ho, đặc biệt khi những xung động kích thích trở lên quá mạnh, nhất là những đối tượng nặng, ho có đờm, ho nhiều và ho dữ dội.
Tuy nhiên, như một lẽ thông thường, thuốc ho nào càng mạnh thì chúng lại càng có nhiều điểm "đáng phải bàn" vì dược tính không mong muốn của nó. Sự mạnh mẽ của thuốc ho ức chế trung ương không bù trừ hoá những khuyết điểm sinh ra đã có. Nó vẫn chứa những đặc tính mà người bệnh cần phải lưu ý hết sức khi sử dụng.
Lại thêm việc sử dụng thuốc ho ngày nay đã trở lên quá quen thuộc. Một phần vì chúng ta rất dễ bị ho khi nhiễm bệnh đường hô hấp, một phần vì thuốc chống ho được bán khá phổ biến. Vì thế mà đôi khi chúng ta vô tình không chú ý tới những mặt trái của nó. Sự sử dụng mang tính bất cẩn, ngay cả với thuốc ho cũng có thể gây ra những tác hại không thể khắc phục.


Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Hết ho sau 5 phút sau nhai lá kim thất

Nhận biết cây kim thất

Cây kim thất tai (kim thất) hay còn được gọi với một số tên khác nhau như thiên hắc địa hồng, đái dầm, rau lúi, rau lùi, khảm khon (theo người Tày), có tên khoa học là Gynura Acutifolia thuộc họ Asteraceae.
Kim thất là một loại cỏ có thân thảo, nhẵn và nhiều cành. Lá cây mọc so le, cuống ngắn, đầu lá nhọn, lá dày, nhẵn mọng nước và có mép khía răng cưa không đều. Mặt trên của phiến lá có màu xanh thẫm đen, mặt dưới màu đỏ tím (nên có tên gọi là Thiên hắc Địa hồng). Cây kim thất thường ra hoa màu vàng và kết quả vào mùa hè.
Đây là một loại cây thường mọc hoang, sau đó được người dân trồng làm rau ăn. Cây có thể chế biến thành một số món như luộc, nấu với canh ngao hoặc thịt băm ăn đều ngon.
Cây kim thất là cây ưa nắng nhẹ, rất dễ trồng, thường không có sâu bệnh phá hoại. Đặc biệt, ngoài việc dùng làm thực phẩm hàng ngày, cây kim thất còn rất giàu dược tính nên cũng được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây còn tươi hoặc đã phơi, sấy khô.
Theo Đông y, kim thất có vị cay ngọt thơm, tính bình, khi vào trong cơ thể sẽ có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, chỉ khái, hoặc tán ứ tiêu thũng. Được sử dụng để điều trị một số bệnh như viêm họng, viêm khí quản mạn, chấn thương sưng đau, phong tê thấp khớp xương đau nhức …
Tác dụng chữa bệnh tuyệt vời của cây kim thất - ảnh 1Kim thất là một loại cỏ có thân thảo, nhẵn và nhiều cành (Ảnh: Internet)

Bài thuốc chữa bệnh hay từ cây kim thất

Trị ho gió, ho khan hoặc ho có đờm: Dùng một lá kim thất cho vào miệng nhai nhỏ, ngậm nước rồi nuốt dần. Các cơn ho sẽ hết chỉ sau 5 phút.
Viêm họng: Nhai lần lượt từng lá kim thất, ngậm lấy nước rồi sau đó nuốt dần dần. Sau khoảng 30 - 60 phút bệnh sẽ khỏi.
Ho lao: Nhai nuốt mỗi lần 2 ngọn kim thất tươi vào buổi sáng và buổi chiều, liên tục trong vòng 6 tháng. Ngoài ra, trong mỗi bữa cơm nên dùng 10 ngọn kim thất (dài khoảng 25cm) thái nhỏ để nấu canh hoặc xào ăn sẽ không bị đau nhức mỏi cơ thể. Mỗi lần lên cơn ho, dùng một lá kim thất nhai nhỏ rồi nhậm nuốt nước dẫn sẽ có tác dụng khỏi ho và tiêu đờm.
Chữa va đập bầm tím: Dùng 30g kim thất, thêm vài hạt hồ tiêu, sau đó giã nát và đắp vào vết thương, sau 3 giờ thay miếng khác. Các vết bầm tím sẽ tan trong vòng 3 ngày.
Tác dụng chữa bệnh tuyệt vời của cây kim thất - ảnh 2Cây kim thất còn rất giàu dược tính nên cũng được sử dụng làm thuốc chữa bệnh (Ảnh: Internet)
Chữa đau lưng nhức mỏi: Dùng 10 ngọn kim thất thái nhỏ sau đó nấu thành một bát canh để ăn. Chứng đau lưng, nhức mỏi cơ thể sẽ khỏi sau 5-6 giờ.
Tiểu đường: Vào mỗi buổi sáng và chiều, sử dụng 7 - 9 lá kim thất nhai nuốt dần. Kiên trì làm như vậy sẽ giúp lượng đường trong máu được điều hòa rõ rệt. Cách làm này không độc, không gây phản ứng phụ nên có thể kết hợp với các vị thuốc trị tiểu đường khác.
Người không có bệnh gì cả: Những người khỏe mạnh nếu thường xuyên ăn tươi các ngọn kim thất hoặc dùng kim thất để xào, nấu canh sẽ có tác dụng tăng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật, tăng cường các chức năng nội tiết, điều hòa huyết áp, giúp cho máu lưu thông tốt



Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Bổ sung sắt cho người bệnh phổi mãn tính

Thống kê từ các nhà khoa học thuộc ĐH Oxford, Anh gợi ý rằng việc bổ sung sắt có thể là một trong nhiều hướng mới giúp cải thiện triệu chứng cho người mắc bệnh phổi mãn tính.

Theo ước tính, khoảng 20% bệnh nhân mắc bệnh phổi mãn kèm theo tình trạng thiếu sắt. Họ nhận thấy khi bệnh nhân thiếu sắt làm nồng độ oxy máu giảm, giảm khả năng gắng sức và tần suất xuất hiện cơn khó thở dày đặc hơn.
Nồng độ oxy máu là chỉ số có thể dự báo khả năng sống còn của bệnh nhân, trong khi các phương pháp điều trị hiện tại không thể giúp nâng oxy máu trở lại như người bình thường mà chỉ có thể cải thiện triệu chứng.