Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

10 thông tin giúp hiểu rõ hơn ung thư vòm họng

1. Ung thư vòm họng là gì?
(SKDS) - Vòm họng là phần cao nhất của họng. Ung thư vòm họng (K vòm) là những ung thư xuất phát từ biểu mô vùng vòm họng.
2. Vì sao bị mắc ung thư vòm?
Nguyên nhân chính xác gây ung thư vòm chưa được sáng tỏ.
Nhiễm virus Epstein-Barr có thể liên quan đến bệnh nhưng chưa chứng minh được đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, các nhà nghiên cứu thấy có những mảnh AND của virus Epstein-Barr kết hợp với ADN của tế bào trong vòm họng nhưng một số trường hợp khác, nhiều trường hợp nhiễm virus Epstein-Barr nhưng lại phục hồi hoàn toàn.
 Ăn nhiều dưa cà muối là một yếu tố nguy cơ gây ung thư.
Các nguy cơ khác gây bệnh cũng chưa có bằng chứng rõ ràng nhưng hay gặp trên người châu Á, tiền sử uống nhiều rượu, hút thuốc. Chế độ ăn nhiều cá muối và thức ăn lên men (dưa, các loại củ) được xem là những yếu tố nguy cơ gây bệnh.
3. Ung thư vòm họng hay xảy ra với người Việt Nam như thế nào?
Ung thư vòm họng thường gặp nhất trong các ung thư đầu cổ và là một trong 10 ung thư phổ biến tại Việt Nam. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp ở nam giới, tuổi từ 40 - 60.
4. Phòng tránh ung thư vòm họng bằng cách nào?
Bệnh ung thư vòm họng ở người không có yếu tố nguy cơ rõ ràng, do đó chưa có biện pháp phòng bệnh đặc hiệu.
Một số yếu tố về chế độ ăn uống và thói quen dùng rượu, thuốc lá có liên quan với nguy cơ gây bệnh nên thay đổi chế độ ăn, hạn chế rượu, thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ này.
5. Cách phát hiện sớm ung thư vòm
Mặc dù rất khó khăn, tuy nhiên, có thể dựa vào các triệu chứng bất thường về TMH. Điều trị thông thường không khỏi. Và điều quan trọng là cảnh giác, nghĩ đến bệnh để đi khám đúng chuyên khoa (TMH hoặc ung bướu).
6. Làm thế nào để biết chắc bị mắc bệnh ung thư vòm?
Bệnh có thể gây ra một hoặc nhiều triệu chứng. Bạn nên đi khám nếu có thấy một/nhiều triệu chứng sau:
Cảm thấy có khối bất thường vùng cổ hay họng; Đau họng; Khó thở hoặc nói; Chảy máu cam; Ngạt tắc mũi; Khó nghe; Đau hoặc ù tai; Đau nửa đầu.
Các thầy thuốc sẽ kiểm tra tai mũi họng. Khi phát hiện có u vòm sẽ lấy sinh thiết làm chẩn đoán xác định.
7. Người mắc ung thư vòm họng được điều trị như thế nào?
Xạ trị là phương thức điều trị chủ yếu cho bệnh khi ở giai đoạn tại chỗ tại vùng. Khi toàn trạng chung của người bệnh tốt và trong các cơ sở y tế có nhiều kinh nghiệm, người bệnh có thể được cân nhắc xạ trị phối hợp với hóa trị. Hóa trị kết hợp có thể làm tăng hiệu quả của điều trị chính nhưng làm kéo dài thời gian điều trị, tăng chi phí và chịu thêm những ảnh hưởng không mong muốn của điều trị.
Khi bệnh đã có di căn xa, điều trị chủ yếu là làm giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng sống.
 Hình ảnh khối u vòm họng.
8. Người mắc ung thư vòm nên ăn uống như thế nào?
Nói chung, không có khuyến cáo chế độ ăn dành riêng cho người bệnh. Nên ăn lỏng, chế độ ăn đầy đủ, cân đối và vệ sinh miệng, họng tốt hằng ngày.
9. Sau điều trị, người bị ung thư vòm nên vận động và làm việc như thế nào?
Sau điều trị, người bệnh vẫn cần tự chăm sóc và hoạt động thể lực hợp lý để có được tình trạng sức khỏe chung tốt. Ngoài ra, nên vệ sinh miệng, họng; tập há miệng và xoa bóp vùng cổ hằng ngày để phòng, giảm các ảnh hưởng ngoại ý muộn do xạ trị. Không có một chỉ định riêng về vận động và làm việc cho người bệnh ung thư vòm họng.
10. Những người mắc ung thư vòm ở Việt Nam đã được cứu sống hoặc kéo dài cuộc sống như thế nào?
Theo dữ liệu của từ điển bách khoa điện tử (Wikipedia) tỉ lệ về sống thêm 5 năm của những người được chẩn đoán tại Mỹ hiện nay như sau:
Giai đoạn I: 98%; Giai đoạn II:  95%; Giai đoạn III:  86%; Giai đoạn IV: 73%.
Một số nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy, kết quả điều trị ung thư vòm tại Việt Nam đã được cải thiện một cách đáng kể, tuy nhiên, còn thấp hơn của nước ngoài.
Dự án Phòng chống bệnh ung thư
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về y tế

Bệnh viện K - 43 Quán Sứ - Hoàn Kiếm - Hà Nội

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Nguy cơ viêm thanh quản cấp do nắng nóng

Viêm thanh quản cấp là một bệnh phổ biến, thường xảy ra vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết chuyển lạnh. Tuy nhiên hiện nay, do kinh tế phát triển cùng với sự nóng lên của trái đất dẫn đến việc sử dụng điều hòa và dùng nước đá giải khát cũng là nguy cơ dẫn đến viêm thanh quản cấp.
Thủ phạm gây viêm thanh quản cấp
Như chúng ta đã biết, họng và thanh quản đem lại tiếng nói cho bạn nhờ sự rung động của hai dây thanh khi luồng không khí đi ra từ phổi. Khi bạn bị mất tiếng hoặc nói khàn tức bộ phận này đã bị tổn thương, y học gọi viêm thanh quản cấp. Qua nghiên cứu, người ta phát hiện nguyên nhân gây viêm thanh quản cấp chủ yếu là do virut: influenza, virut APC, myxovirut, virut cúm, á cúm. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác như stress (căng thẳng thần kinh, mệt mỏi về thể chất, dị ứng hay hít phải chất lạ nào đó). Khởi đầu của viêm thanh quản cấp thường do bị viêm mũi hoặc viêm mũi - họng xuất tiết với dấu hiệu chính là khàn tiếng hay mất tiếng đột ngột. Triệu chứng ban đầu, người bệnh thấy nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, ngấy sốt sau đó đau họng, có cảm giác nóng và khô hoặc rấm rứt như có dị vật trong cổ họng, kích thích ho (lúc đầu ho từng cơn, ho khan, sau đó ho có đờm nhầy). Tiếp đến, giọng nói bị khàn, đôi khi khàn đặc, thậm chí mất tiếng. Những triệu chứng trên của bệnh thường kéo dài trong vài ngày. Sau đó, các triệu chứng giảm dần, khoảng sau 7 ngày thì khỏi. Ban đầu có thể chỉ khỏi cơn ho, sốt, chảy mũi nhưng khàn tiếng có thể kéo dài thêm một vài ngày nữa mới khỏi hẳn.
Hình ảnh viêm thanh quản cấp qua nội soi: hai dây thanh sung huyết và có ít giả mạc.
Hình ảnh viêm thanh quản cấp qua nội soi: hai dây thanh sung huyết và có ít giả mạc.
Làm gì khi bị viêm thanh quản?
Bệnh diễn biến trong vòng 5 - 7 ngày rồi tự khỏi nếu không có biến chứng. Tuy nhiên, viêm thanh quản cấp có thể gây biến chứng, nhất là những trường hợp bội nhiễm dẫn đến những bệnh nhiễm khuẩn do sức đề kháng chung của cơ thể giảm sút như viêm tai, viêm phổi... Chính vì thế, cần phải theo dõi sát, điều trị đúng và kịp thời, nếu thấy xuất hiện các triệu chứng của biến chứng như đau tai, chảy dịch ở tai, khó thở..., phải đưa người bệnh vào viện ngay. Điều trị toàn thân dùng kháng sinh phòng bội nhiễm: nhóm b lac-tam như amoxilin, taxetil dạng viêm hoặc siro với liều theo cân nặng. Nếu dị ứng với nhóm kháng sinh này thường được thay thế bằng kháng sinh nhóm macrolid như davercine... Có thể dùng thuốc chống viêm, giảm phù nề bằng liệu pháp corticoid (hít): solumedrol hoặc depersolon hoặc corticoid đường uống, chymotrypsin choay dạng viên nén ngậm dưới lưỡi hoặc uống phối hợp với các thuốc giảm ho, kháng histamin uống.
Dân gian thường sử dụng chanh tươi thái lát mỏng, nghệ tươi, đường phèn hấp cách thủy ngậm nhiều lần trong ngày. Dùng một số thảo dược như húng chanh, mật ong, quất, gừng, tía tô, ngải cứu, bạc hà... trong điều trị viêm thanh quản cũng cho kết quả tốt.
Thuốc ngậm tại chỗ cũng rất hữu ích trong viêm thanh quản, tuy nhiên, thuốc sử dụng, liều dùng cũng như thời gian sử dụng phải theo chỉ định của thầy thuốc, tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.
Điều trị hỗ trợ viêm mũi họng bằng cách nhỏ mũi, súc họng bằng dung dịch kiềm nhẹ. Khí dung mũi họng cùng với làm thuốc thanh quản thực hiện bởi các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.
Đối với những bệnh nhân viêm thanh quản, điều quan trọng nhất trong điều trị là kiêng nói để dây thanh có thể phục hồi sớm nhất. Nếu thực hiện được kiêng nói trong vài ngày (thường khoảng 3 - 5 ngày), bệnh sẽ khỏi rất nhanh. Ngoài ra, cần bổ sung vitamin, ăn nhiều hoa quả tươi, nằm nghỉ ngơi, không hút thuốc lá, uống rượu và các gia vị kích thích như ớt, hạt tiêu...
Để phòng viêm thanh quản cấp
Khi đi đường, làm việc trong môi trường bụi, nên đeo khẩu trang, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho cơ thể để chống lại sự thâm nhập của virut, vi khuẩn. Trước khi đi ngủ, nên nhỏ mũi, súc miệng bằng nước muối sinh lý. Khi có những triệu chứng sớm của viêm mũi, viêm họng cấp, cần điều trị ngay. Hạn chế tối đa việc hút thuốc, không uống nước đá...
Lời khuyên của thầy thuốc
Có nhiều trường hợp khi bị viêm thanh quản cấp do chủ quan nghĩ chỉ bị viêm họng nhẹ nên không đi khám mà tự điều trị ở nhà, khi bệnh không đỡ mới đến cơ sở y tế. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân tới khám đã bị viêm khí - phế quản, viêm phổi... gây khó thở nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng và cũng do tự điều trị ở nhà, lạm dụng nhiều thuốc, nhất là kháng sinh nên gây khó khăn trong quá trình điều trị. Chính vì thế, khi có những dấu hiệu của bệnh như mất tiếng hoặc giọng khàn, nói khó khăn kèm theo hiện tượng ho, sốt, nhiều đờm; khó thở, hít vào có tiếng rít; tiếng ho khàn, người mệt nhiều và gần như không nói được; khàn tiếng kéo dài dùng thuốc không thấy đỡ (có thể là biểu hiện của chứng ung thư các dây thanh âm)..., cần đi khám chuyên khoa tai - mũi - họng để tìm nguyên nhân và phương pháp điều trị.

BS. Nguyễn Văn Thái

Cách đối phó viêm họng cấp tính ở trẻ

Mùa hè, không khí nóng nực khiến nhiều người nghiện uống nước giải khát với đá. Điều này rất dễ dẫn tớiviêm họng cấp, nhất là đối với trẻ em. Viêm họng cấp nếu không được điều trị thì có thể kéo dài từ 7 - 10 ngày và rất dễ gây biến chứng như viêm amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm hạch mủ, VA quá phát (trẻ nhỏ) và nguy hiểm nhất là nhiễm khuẩn huyết.
Nóng - lạnh đột ngột dễ gây viêm họng cấp
Viêm họng cấp tính là sưng nề niêm mạc họng một cách nhanh chóng. Căn nguyên gây viêm họng cấptính có thể do vi khuẩn, virut, vi nấm hoặc tác động của môi trường. Điều kiện thuận lợi nhất cho các loại vi sinh vật gây bệnh có nhiều loại nhưng khi bị lạnh đột ngột là yếu tố rất cần được quan tâm. Lạnh đột ngột có thể do thời tiết thay đổi, nhưng vào mùa nắng nóng, trẻ hay dùng các loại nước giải khát lạnh quá thì rất dễ xảy ra viêm họng cấp. Bởi vì họng là vị trí của ngã tư đường ăn và đường thở, là cửa ngõ của đường dẫn không khí vào phổi, dẫn thức ăn và nước uống qua thực quản. Vì vậy, họng là nơi rất thuận lợi cho vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh, đặc biệt là viêm họng cấp ở trẻ em.
Cách đối phó viêm họng cấp tính ở trẻ
Khi trẻ có dấu hiệu viêm họng cần đưa trẻ đi khám để được điều trị đúng. Ảnh: Trần Minh
Qua các công trình nghiên cứu cho thấy, có trên 80% các trường hợp trẻ em lúc đầu chỉ bị viêm mũi, họng do virut, sau vài ngày, do sức đề kháng của cơ thể trẻ yếu dần, đặc biệt là các cháu còi xương, suy dinh dưỡng hoặc đang mắc các bệnh đường hô hấp mạn tính (VA, hen phế quản) thì các loại vi khuẩn khác đang sống ký sinh ở họng, mũi trở nên gây bệnh (thường gọi là vi khuẩn gây bệnh cơ hội như vi khuẩn phế cầu, Hemophilus influenzae, liên cầu, tụ cầu). Mùa nắng nóng, trẻ dễ bị viêm họng cấp do dùng đồ uống quá lạnh như kem, nước đá, nếu cùng một lúc (hoặc ngay sau khi dùng đồ lạnh) trẻ chơi trước luồng gió xoáy vào của quạt hoặc ở trong phòng máy lạnh hoặc quần áo ướt đẫm mồ hôi làm cho cho trẻ càng dễ cảm lạnh gây viêm họng cấp.
Bệnh có biến chứng nguy hiểm?
Viêm họng cấp thường khởi phát đột ngột, sốt cao 39 - 40oC, ho, sốt, nghẹt mũi (1 hoặc 2 bên mũi), đau rát họng, quấy khóc nhiều, bỏ ăn, bú ít. Với trẻ nhỏ, khi viêm họng cấp mà bị sốt cao rất có thể bị co giật. Các trẻ lớn đã biết nói có thể sẽ kêu với bố mẹ là đau đầu, đau họng (nuốt đau), nghẹt mũi, ù tai, rát họng. Một số trẻ kêu bị đau nhức trong tai, kèm theo đó là chảy nước mũi nhầy, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, trẻ mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn. Nếu sờ vào vùng cơ ức đòn chũm, góc hàm có thể thấy xuất hiện viêm tấy hạch và đau. Viêm họng cấp nếu không được điều trị thì có thể kéo dài từ 7 - 10 ngày và rất dễ gây biến chứng như viêm amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm hạch mủ, VA quá phát (trẻ nhỏ) và nguy hiểm nhất là nhiễm khuẩn huyết.
Cách đối phó viêm họng cấp tính ở trẻ
Khi trẻ mắc bệnh viêm họng, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được khám và điều trị.
Nhiễm khuẩn huyết là một biến chứng rất nặng và gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ, đặc biệt là do vi khuẩn tụ cầu vàng (S. aureus) hoặc vi khuẩn trực khuẩn mủ xanh (P. aeruginosa). Nguy hiểm nhất là những trẻ viêm họng do vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes) có thể dẫn đến thấp tim, viêm cầu thận cấp. Nếu bị biến chứng thấp tim (trước tiên là thấp khớp cấp) thì ngoài các triệu chứng về viêm họng, trẻ bị đau, sưng, nóng các khớp, đặc biệt là sưng khớp gối, khớp khuỷu, ngón tay và chạy từ khớp này sang khớp khác. Sưng, nóng, đỏ, đau ở một số khớp và di chuyển từ khớp này sang khớp khác là một dấu hiệu hết sức điển hình của thấp khớp cấp tính để nhận biết nguy cơ bị thấp tim ở trẻ. Viêm họng cấp tính nếu không được phát hiện và điều trị ngay từ đầu thì cũng rất dễ chuyển thành viêm họng mạn tính kéo dài, tái đi tái lại nhiều lần.
Cần phải làm gì?
Nếu trẻ bị viêm họng cấp, sốt cao, nên cho trẻ đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Trong khi chưa thể đưa trẻ đến cơ sở y tế được thì có thể xử trí ngay tại gia đình, lớp học (nhà trẻ, mẫu giáo). Nếu trẻ sốt trên 38oC, nên dùng thuốc hạ sốt loại đơn chất paracetamol với liều lượng: trẻ dưới 3 tháng/tuổi là 40mg; trẻ từ trên 3 tháng - 11 tháng/tuổi là 80mg; trẻ từ 12 tháng - 24 tháng/tuổi là 120mg; trẻ trên 24 tháng/tuổi thì dùng 10mg/kg cân nặng và cứ 6 giờ mới dùng lại, nếu trẻ vẫn sốt cao trên 38oC (có thể uống hoặc đặt hậu môn). Khi trẻ sốt mà chưa cần dùng đến thuốc hạ nhiệt thì nên lau bằng nước ấm (nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của trẻ khoảng 2oC) vào vùng trán, nách, bẹn cho trẻ (không dùng nước đá hoặc nước lạnh).
Trẻ cần được uống nhiều nước (tốt nhất là dùng dung dịch oresol) và nước ép hoa quả. Nếu bệnh của trẻ không đỡ thì cần phải đưa trẻ đi bệnh viện khám để được xác định bệnh và có chỉ định điều trị của bác sĩ. Khi viêm họng mà có chỉ định điều trị của bác sĩ khám bệnh thì cần thực hiện nghiêm túc, uống thuốc theo đơn. Cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian. Các bậc phụ huynh tuyệt đối không được tự ý mua thuốc kháng sinh để tự điều trị cho trẻ.
Mùa hè, thời tiết nóng bức, môi trường dễ ô nhiễm là điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật phát triển và gây bệnh. Ngoài việc không cho trẻ dùng các loại đồ uống quá lạnh hoặc kem thì cần vệ sinh họng, răng, miệng hàng ngày như đánh răng, súc họng bằng nước muối loãng. Ðặc biệt, với trẻ có bệnh về đường hô hấp trên mạn tính, hay tái phát, càng cẩn thận khi cho trẻ uống nước giải khát lạnh. Khi trẻ đang bị viêm họng cấp thì phòng ngủ dành cho trẻ cần thoáng mát, nếu có điều hòa nhiệt độ, cần giữ ở mức nhiệt độ thích hợp với trẻ, nhiệt độ lý tưởng cho trẻ là trên 26oC. Nếu sử dụng quạt thì không nên cho hướng của quạt chiếu thẳng vào trẻ mà nên cho quạt quay và cũng nên cho tốc độ ở mức vừa phải, khi trẻ đã ngủ ngon thì nên giảm tốc độ của quạt.

BS. Bùi Anh

Viêm phế quản cấp ở người lớn: Xu hướng mới trong chữa trị và phòng ngừa

Viêm phế quản cấp là tình trạng viêm nhiễm cấp tính của niêm mạc phế quản ở người trước đó không có tổn thương, khi khỏi không để lại di chứng. Nguyên nhân thường do nhiễm virut, vi khuẩn hoặc cả hai loại. Đây là bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp nhất trong cuộc sống hàng ngày. Có thể nói, không ai trong cuộc đời lại không có một vài lần bị viêm phế quản cấp. Nhiều trường hợp viêm phế quản cấp tự khỏi mà không cần điều trị.
Chẩn đoán viêm phế quản cấp dựa vào những yếu tố nào?
Trường hợp điển hình của viêm phế quản cấp thường do virut gây ra, bệnh thường bắt đầu với các dấu hiệu của viêm long đường hô hấp trên với hắt hơi, sổ mũi và/hoặc viêm mũi họng. Tổn thương viêm lan xuống đường hô hấp dưới biểu hiện trước tiên bằng ho khan, ho từng cơn, có trường hợp ho ông ổng, số ít trường hợp có đau rát ngực.
Ở những giai đoạn sau của bệnh, nhiều trường hợp có bội nhiễm thêm vi khuẩn, do đó thường có biểu hiện khạc đờm màu xanh, vàng, đục như mủ. Một số ít trường hợp có thể có ho khạc đờm lẫn máu. Khám phổi giai đoạn này có thể nghe thấy có ran ngáy và ran ẩm, gõ không thấy vùng đục. Giai đoạn này kéo dài 4-5 ngày và khoảng 10 ngày thì khỏi hẳn. Ở một số trường hợp, ho khan kéo dài nhiều tuần lễ (tăng tính phản ứng phế quản sau nhiễm khuẩn).
Xu hướng mới trong chữa trị và phòng ngừa
Cấu tạo hệ hô hấp.
Phim chụp Xquang phổi thường không có giá trị trong chẩn đoán xác định viêm phế quản cấp. Chỉ nên chụp Xquang phổi khi bệnh nhân có các dấu hiệu bất thường: người trên 75 tuổi; mạch trên 100 lần/phút, thở trên 24 lần/phút hoặc nhiệt độ trên 38oC; hay khám phổi thấy ran ẩm, nổ, hội chứng đông đặc. Những trường hợp có nghi ngờ các bệnh khác (mà không phải viêm phế quản cấp) thì cũng cần chỉ định chụp Xquang phổi.
Dấu hiệu nào giúp khẳng định bệnh do vi khuẩn gây ra?
Các dấu hiệu giúp thầy thuốc hướng tới chẩn đoán viêm phế quản cấp do vi khuẩn thường bao gồm: Khạc đờm màu đục, vàng hoặc đờm màu xanh; Bạch cầu máu tăng cao; Protein phản ứng C (CRP) tăng cao; Procalcitonin tăng.
Trong tất cả các yếu tố trên, nhìn màu sắc đờm cho đánh giá nhanh và chính xác nhất. Chỉ khi đờm không cho phép xác định nguyên nhân nhiễm khuẩn hoặc thầy thuốc vẫn nghi ngờ căn nguyên nhiễm khuẩn thì mới nên làm thêm các xét nghiệm khác để xác định căn nguyên.
Nguyên nhân viêm phế quản cấp: Căn nguyên gây bệnh có thể do vi khuẩn, virut hít phải hơi độc, yếu tố dị ứng... Ngoài ra, yếu tố thuận lợi của bệnh là: Thay đổi thời tiết, nhiễm lạnh đột ngột; Cơ thể suy mòn, còi xương, suy dinh dưỡng ở trẻ em, suy giảm miễn dịch; Ứ đọng phổi do suy tim; Các bệnh của phổi như lao phổi và ung thư phổi; Môi trường sống ẩm thấp, nhiều khói bụi.
Có nên dùng kháng sinh trong điều trị viêm phế quản cấp?
Hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp do căn nguyên virut. Ở những trường hợp này, dùng kháng sinh không có tác dụng, do đó, việc chỉ định nhất loạt kháng sinh cho tất cả các trường hợp viêm phế quản cấp là không cần thiết. Chỉ nên dùng kháng sinh cho các trường hợp viêm phế quản cấp có kèm thêm:
Bệnh nhân có kèm bệnh tim, phổi, thận, gan, thần kinh cơ, suy giảm miễn dịch; Bệnh nhân trên 65 tuổi có ho cấp tính kèm thêm 2 hay bệnh nhân trên 80 tuổi kèm thêm 1 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau: nhập viện trong 1 năm trước; có đái tháo đường typ 1 hoặc typ 2; tiền sử suy tim sung huyết; hiện đang dùng corticoid uống. Các kháng sinh thường dùng để điều trị viêm phế quản cấp thường bao gồm: nhóm betalactam, macrolide, quinolon.
Bệnh nhân nên uống nhiều nước giúp cải thiện việc ho, khạc đờm.
Khi điều trị tối ưu mà bệnh nhân còn ho nhiều, cần lưu ý tình trạng co thắt phế quản, hoặc cần lưu ý thêm các bệnh lý kèm theo như trào ngược dạ dày thực quản hoặc bệnh chưa được chẩn đoán chính xác.
Lời khuyên của thầy thuốc: Để phòng bệnh, cần loại bỏ yếu tố kích thích: không hút thuốc, tránh khói bụi trong - ngoài nhà, môi trường ô nhiễm, giữ ấm vào mùa lạnh; tiêm vaccin phòng cúm, phế cầu, đặc biệt ở những trường hợp có bệnh phổi mạn tính, suy tim, cắt lách, tuổi trên 65. Điều trị các nhiễm khuẩn tai mũi họng, răng hàm mặt, tình trạng suy giảm miễn dịch.
Chú ý: Vệ sinh răng miệng hằng ngày.
TS. Nguyễn Thanh Hồi
(Giám đốc Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hải Phòng)
Viêm phế quản cấp cũng thường liên quan nhiều tới tình trạng dùng kháng sinh không phù hợp. Căn nguyên gây bệnh thường gặp nhất là do virut, tuy nhiên, nhiều nghiên cứu nhận thấy, có tới 70% số trường hợp viêm phế quản cấp được dùng kháng sinh.
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy, hầu hết những bệnh nhân khi đến khám bác sĩ đều đã dùng kháng sinh: khoảng 75,5% các bệnh nhân viêm phổi do phế cầu và tụ cầu đã dùng kháng sinh từ 1 - 4 ngày trước vào viện. Tại các cửa hàng thuốc, chỉ có 18,4% số người mua kháng sinh là theo đơn. Như vậy, với 81,6% số trường hợp tự mua kháng sinh ngoài các cửa hàng dược càng làm gia tăng nghiêm trọng tình trạng dùng kháng sinh trong nhiễm khuẩn hô hấp.
Trong thời gian gần đây, ngày càng xuất hiện xu hướng kê kháng sinh phổ rộng trong điều trị viêm phế quản cấp. Trước năm 1990, chỉ khoảng 20% số trường hợp viêm phế quản cấp được kê kháng sinh phổ rộng, tuy nhiên, con số này đã tăng lên tới 60% trong những năm gần đây.


Khàn tiếng, coi chừng bệnh trọng

Chứng khàn tiếng (hoarse) là biểu hiện đặc trưng của bệnh ở thanh quản: có khàn tiếng là có bệnh ở thanh quản, ngược lại khi có bệnh ở thanh quản thì chắc chắn có khàn tiếng. Đối với những người ít phải nói mà bị khàn tiếng cần rất cảnh giác với những bệnh nan y như lao, ung thư thanh quản...
Tiếng nói là kết quả kết hợp nhuần nhuyễn giữa vỏ não, các dây thần kinh dẫn truyền và nơi phát ra âm thanh là thanh quản, miệng, mũi, hầu, răng, môi.
Thanh quản bình thường (trên) và tổn thương viêm thanh quản (dưới).
Thanh quản bình thường (trên) và tổn thương viêm thanh quản (dưới).
Thanh quản là cơ quan hẹp nhất của đường thở, là nơi phát ra âm thanh. Tuy không phải thanh quản là cơ quan quyết định để phát ra tiếng nói, nhưng tiếng nói được phát ra chủ yếu bởi thanh quản.
Thanh quản được cấu tạo bởi 2 cái phễu nối liền với nhau ở khoảng hẹp nhất là khe thanh môn, khoảng cách giữa hai dây thanh ngăn phần trên là thượng thanh môn và phần dưới là hạ thanh môn. Thanh môn có 3 chức năng chính: một là chức năng hô hấp; hai là chức năng bảo vệ đường thở: nhờ hai phản xạ là co thắt, ngăn không cho dị vật (lỏng, đặc) rơi vào khí quản, phổi và phản xạ ho để tống dị vật ra ngoài; ba là chức năng phát âm, phát ra âm thanh, tiếng nói.
Âm thanh được phát ra khi không khí đi qua khe thanh môn làm rung hai dây thanh tạo nên tiếng nói. Khi phát âm hai dây thanh khép kín thì âm thanh phát ra đồng đều, giọng trong có âm sắc, tạo nên âm thanh đặc trưng riêng của từng người. Nếu khi phát âm mà hai dây thanh không khép kín thì tiếng nói sẽ bị khàn, giọng không đều, mất tiếng, mất âm sắc...
Vì sao bị khàn tiếng?
Khàn tiếng sẽ xảy ra trong các trường hợp sau: viêm thanh quản do bạch hầu, lao thanh quản, viêm thanh quản cấp tính do nhiều loại vi khuẩn, viêm thanh quản mạn tính...; nang hạt xơ, polyp ở thanh quản, khối u, ung thư họng và thanh quản; liệt dây thần kinh quặt ngược; dị vật ở thanh quản; sẹo hẹp do chấn thương hoặc do đặt ống nội khí quản. Ngoài ra còn có những yếu tố nguy cơ gây khàn tiếng như: phải làm việc nơi nóng ẩm, nhiều tiếng ồn, hơi nước hoặc độ ẩm cao, có nhiều bụi và hóa chất; những người phải nói nhiều như giáo viên, phát thanh viên, nhân viên bán hàng, ca sĩ...
Khàn tiếng và các triệu chứng đi kèm
Theo các nhà chuyên môn: khàn tiếng là triệu chứng có sớm và trung thành nhất của các bệnh lý ở thanh quản. Một khi đã bị khàn tiếng, chất lượng của tiếng nói giảm, cơ thể phản ứng bằng cách cố gắng nói to lên, kết quả là khàn tiếng càng nặng. Nếu bệnh nhân càng nói cố sẽ càng mệt, hình thành vòng tròn lẩn quẩn của quá trình khàn tiếng. Bệnh nhân bị khàn tiếng hoặc mất tiếng. Khi bác sĩ khám bệnh có thể thấy: niêm mạc thanh quản đỏ, nhiều dịch nhày, mủ chảy từ hạ họng vào thanh quản, băng thanh thất bị phù mọng, dây thanh âm có màu đỏ, phù dày, trên dây thanh có nhiều dịch nhầy, mạch máu đỏ. Chụp phim Xquang có thể phát hiện khối u trung thất. Có khi thấy hình ảnh nhát roi thanh quản do đập vào nhau quá mạnh, đột ngột gây nên một điểm loét tiếp xúc, xảy ra sau một gắng sức của giọng quá mạnh như ca sĩ tự nhiên hát bài hát có tần số cao quá khả năng của mình, một người đột ngột tức giận hét lên...
Chữa trị và phòng ngừa thế nào?
Chữa khàn tiếng phải tùy nguyên nhân mà có cách xử trí thích hợp. Các thuốc cần dùng gồm: kháng sinh, chống viêm, hạ sốt, an thần, giảm ho, giảm phù nề. Súc họng bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%o. Dùng máy khí dung với dung dịch kháng sinh kết hợp corticoid, hoặc bơm thuốc trực tiếp vào thanh quản. Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, ăn uống nhẹ nhàng, tránh các loại thức ăn lạnh, hạn chế dùng rượu, bia, thuốc lá, cà phê... Tăng cường ăn hoa quả, uống trà gừng nóng. Hạn chế hoặc nói đến khi khỏi thì càng tốt.
Hàng ngày, bệnh nhân nên súc miệng nhiều lần bằng nước trà đặc có pha chút muối ăn. Pha 2 muỗng cà phê mật ong trong 250ml lít sữa tươi hâm nóng rồi uống từng ngụm thật chậm, nhiều lần trong ngày. Ngưng hút thuốc lá, thuốc lào trong thời gian mất tiếng vì thuốc lá có thể phá hủy tác dụng của các biện pháp điều trị nói trên.
Phẫu thuật cắt bỏ tổn thương, loại bỏ khối u, kết hợp với chạy tia phóng xạ và hóa chất. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần được luyện âm giọng nói, tránh thói quen phát âm xấu như đột ngột nói to có thể gây khàn tiếng.
Để phòng tránh mất tiếng, cần thực hiện nhiều biện pháp phối hợp như: tránh gió lùa vào phòng ở hay phòng làm việc, xe hơi. Không chỉnh nhiệt độ quá thấp trong phòng làm việc khi dùng máy điều hòa nhiệt độ, chỉ nên để mức 25 - 28oC. Nên mặc quần áo đủ ấm nếu phải làm việc nhiều giờ trong phòng quá lạnh, nhất là vùng cổ, ngực.
Không nên uống nước quá lạnh, hay quá nóng, rất nên bỏ thói quen uống nước đá dù trong những ngày nắng nóng. Tránh trường hợp quần áo đang ướt đẫm mồ hôi mà lại bước ngay vào phòng máy lạnh. Tránh nói to, nói nhiều, gào thét...

BS. Trần Ngọc Diệp

Món ăn từ đậu phộng dưỡng huyết, nhuận phế

Lạc (đậu phộng) là thực phẩm thông dụng hàng ngày đối với người dân nông thôn và cả thành thị. Từ lạc có thể chế biến nhiều món ăn, bài thuốc độc đáo, có tác dụng chữa bệnh mà ít người biết. Hạt lạc chứa nhiều dầu béo, nitơ, tinh bột, cellulose, tro, vitamin và chất vô cơ... Vỏ hạt lạc có sterol, tanin, flavonoid...

Món ăn từ đậu phộng dưỡng huyết, nhuận phế
Dầu lạc (dầu đậu phộng) có nhiều acid béo chưa no, giúp giảm cholesterol huyết gây xơ mỡ động mạch. Dùng dầu lạc thay mỡ động vật rất tốt trong phòng ngừa các bệnh mạch vành, chống lão hóa, làm mịn da. Vỏ hạt lạc có xúc tác tạo tiểu cầu, tăng tác dụng co cục máu, nên có tác dụng cầm máu trong các trường hợp xuất huyết vi thể. Theo Đông y, lạc vị ngọt, tính bình, vào tỳ và phế, có tác dụng nhuận phế chỉ khái hóa đàm, dưỡng huyết chỉ huyết, kiện tỳ hòa vị nhuận táo, thôi nhũ lợi niệu, giáng áp thông tiện. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản ho khan ít đờm, thiếu máu, xuất huyết các loại, nôn ói, trào ngược dịch vị, huyết trắng, phù nề, sản phụ sau sinh ít sữa, táo bón, tăng huyết áp, tăng cholesterol. Hằng ngày dùng 50 - 200g dưới dạng ép sống hoặc rang, chiên, xào, nấu. Sau đây là một số món ăn - bài thuốc có lạc.
Canh đậu lạc hồng táo: lạc tươi để nguyên vỏ hạt 90g, đậu đỏ 90g, đại táo 90g. Tất cả hầm nhừ, thêm gia vị, chia ăn 1 - 3 lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp tê phù, phù chân do thiểu dưỡng.
Canh đậu phộng: lạc hạt (bỏ mầm) 100g, nghiền vụn, thêm chút muối, nước liều lượng thích hợp, đun nhỏ lửa thành dạng canh đặc. Dùng cho các trường hợp ho gà (ho khan dài ngày), lao phổi. Đặc biệt là vào mùa thu khô hanh thường có viêm họng khô, đau họng, ho khan.

Món ăn từ đậu phộng dưỡng huyết, nhuận phế
Canh cá diếc đậu lạc: lạc nhân 150g, xích tiểu đậu 120g, cá diếc hoặc cá chép 1 con. Tất cả làm sạch, thêm nước, nấu nhừ, thêm chút rượu gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp thiểu dưỡng, cổ trướng phù nề xuất huyết dưới da và nội tạng.

Món ăn từ đậu phộng dưỡng huyết, nhuận phế
Chân giò hầm đậu phộng: lạc hạt 90 - 100g, chân giò 1 cái. Chân giò làm sạch, chặt khúc; lạc nghiền vụn, thêm gia vị, hầm nhừ. Dùng cho sản phụ tắc sữa, ít sữa.
Chè đậu lạc nhân: lạc nhân 100g, đậu tương 250g. Cho vào nồi đất (không dùng nồi kim loại), thêm đường cát hoặc đường trắng, nước sôi vừa đủ, đun nhỏ lửa cho đến khi đậu tương vỡ nát, nước nấu cô lại thành dịch đặc màu nâu tro là được, chia ăn nhiều lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp viêm thận mạn phù nề, dùng cho sản phụ ít sữa, tắc sữa, tăng huyết áp, táo bón, đái tháo đường, ho khan.
Lạc nhân ướp lá dâu đường phèn: lạc hạt 15g, lá dâu 15g, đường phèn 15g. Cho nước vừa đủ, đun nhỏ lửa đến khi đậu phộng chín nhừ, vớt bỏ bã lá dâu. Dùng cho các bệnh nhân ho suyễn lâu ngày.
Kiêng kỵ: Người có hàn thấp hoặc tiêu chảy, lỏng lỵ không dùng. Không dùng lạc mốc, có mầm.

TS. Trần Đức Quang

Bí quyết đơn giản phòng tránh ung thư phổi

Ngoài thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ra ung thư phổi, còn rất nhiều nguyên nhân khác, một nửa số người bị mắc bệnh này hiện là người không hút thuốc. Sau đây là các cách phòng tránh:
Bí quyết đơn giản phòng tránh ung thư phổi
Cai thuốc lá
Nếu bạn đang hút, hãy bỏ thuốc ngay lập tức
Nếu không phải là người hút thuốc, đừng bao giờ hút thử.
Tránh cả hút thuốc lá thụ động, hít phải khói thuốc của người hút.
Tập thể dục:
Tập luyện thường xuyên có thể hữu ích trong phòng ngừa ung thư phổi. Nghiên cứu đã gắn hoạt động thể lực trong việc giảm nguy cơ ung thư phổi. Kể cả các hoạt động đơn giản như làm vườn 2 lần 1 tuần có thể giúp bạn giảm nguy cơ mắc ung thư phổi.
* Chế độ ăn giàu rau xanh và hoa quả: giúp ngăn ngừa ung thư phổi. Hãy ăn các loại rau đa dạng nhiều màu sắc khác nhau như súp lơ, rau chân vịt, hành, táo, cà chua, cam,...
Tránh môi trường phóng xạ: cần kiểm tra nhà bạn để tránh các yếu tố phóng xạ.

LiLy (Theo zeenews india)