Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Cần làm gì khi ho kéo dài?

Bên cạnh việc chữa bệnh chính là nguyên nhân gây ho, đôi khi bác sĩ cũng dùng thuốc ho hay thuốc long đàm.


Ho là phản xạ bảo vệ cơ thể, xảy ra đột ngột và lặp đi lặp lại nhằm làm sạch đường thở khỏi bị ứ đọng các dịch tiết, các chất kích thích, vật lạ… Có nhiều nguyên nhân gây ho và thường tùy thuộc vào thời gian xuất hiện triệu chứng.
Nguyên nhân và biến chứng
Đối với ho cấp tính, có thể có nguyên nhân hoàn toàn khác với ho mạn tính và trong ho mạn tính có đến 25% trường hợp có ít nhất 2 nguyên nhân gây ho trên cùng một người bệnh. Khi ho trên 3 tuần được gọi là ho kéo dài. Ho cấp tính (ho dưới 3 tuần): Nguyên nhân hay gặp nhất là cảm cúm, viêm xoang cấp, ho gà, đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm mũi dị ứng hay không do dị ứng… 
Ho bán cấp (ho từ 3 - 8 tuần) thường do nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm xoang, hen phế quản... Còn với ho mạn tính (ho trên 8 tuần) có thể do những nguyên nhân như chảy dịch mũi sau, hen phế quản, trào ngược dạ dày thực quản, viêm phế quản mạn, giãn phế quản, dùng thuốc ức chế men chuyển điều trị tăng huyết áp, lao phổi, ung thư phổi, hút thuốc lá… 
Khảo sát lồng ngực bằng phim X-quang Ảnh: V.H
Khảo sát lồng ngực bằng phim X-quang. Ảnh: V.H
Ho là triệu chứng có thể điều trị khỏi với tỉ lệ khá cao lên đến 85%. Tuy nhiên, đôi khi ho có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng cho cơ thể. Về toàn thân: Ho gây mất ngủ, mệt mỏi, biếng ăn, suy sụp tinh thần… Đối với tai mũi họng: Ho gây kích thích, tổn thương thanh quản làm đổi giọng, co thắt thanh quản… Đối với phổi: Ho gây vỡ phế nang, tràn khí trung thất, tràn khí màng phổi… 
Còn với tim mạch, ho gây cơn tăng huyết áp, vỡ mạch máu kết mạc mắt, niêm mạc mũi. Riêng về tiêu hóa, ho gây nôn ói, thoát vị bẹn, rốn… Đặc biệt với thần kinh, ho sẽ gây chóng mặt, ngất. Ngoài ra, ho còn có thể dẫn đến sinh non, sa sinh dục, són tiểu, són phân. Ở người bị loãng xương nặng có thể gãy xương sườn, người đang dùng thuốc chống đông có thể bị tụ máu thành bụng…
Lưu ý khi dùng thuốc ho
Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh nên điều trị nguyên nhân gây ho thì triệu chứng này sẽ biến mất. Trong trường hợp ho cấp tính do cảm cúm, chỉ cần điều trị triệu chứng, bệnh cũng dần tự khỏi. 
Tuy nhiên, khi ho nếu thấy có kèm theo bất kỳ một trong những triệu chứng sau, bạn cần đi khám bệnh: Đó là ho có đàm xanh, vàng hay nâu gỉ; ho ra máu; ho có mủ mùi hôi thối; ho có kèm theo đau ngực, ho khò khè, khó thở, có triệu chứng phù 2 chân; ho thường lặp đi lặp lại vào ban đêm, sụt cân đột ngột, sốt, vã mồ hôi; khản tiếng ở người ho mạn tính…
Để điều trị chứng ho, bên cạnh việc chữa bệnh chính là nguyên nhân gây ho, đôi khi bác sĩ cũng dùng thuốc ho hay thuốc long đàm. Thuốc ho có tác dụng làm giảm ho, chỉ dùng trong trường hợp ho khan, kích thích gây khó chịu. Trong trường hợp ho có đàm, bác sĩ sẽ dùng thuốc làm loãng đàm hay tan đàm. 
Tuy thuốc ho là loại dược phẩm được bán không cần toa nhưng việc sử dụng cần thận trọng và tuân thủ một số nguyên tắc sau: Thuốc ho không thể thay thế thuốc điều trị bệnh chính gây ho, trái lại, có thể che lấp triệu chứng của bệnh. Vì vậy, chỉ dùng khi thật sự  cần, như ho nhiều làm khó chịu hay có nguy cơ gây biến chứng. 
Thận trọng khi dùng thuốc ho cho trẻ nhỏ, phụ nữ có thai, cho con bú, người già, lái xe hay vận hành máy móc. Với trẻ nhỏ, nên dùng muỗng lường có kèm theo chai thuốc để tránh việc dùng quá liều. Không nên cho trẻ vừa dùng thuốc ho vừa thuốc cảm vì 2 loại thuốc trên có thể chứa cùng hoạt chất có thể gây ngộ độc thuốc.
Thuốc ho chỉ dùng cho trường hợp ho khan, không dùng cho người ho có đàm và có triệu chứng suy hô hấp. Nên dùng liều thấp nhất có tác dụng và trong thời gian càng ngắn càng tốt để hạn chế tác dụng phụ của thuốc. Không dùng thuốc ho kết hợp thuốc long đàm vì đàm sẽ tiết nhiều hơn nhưng không khạc ra được. Không dùng thuốc ho quá 5 ngày, nếu còn tiếp tục ho đừng tự ý tăng liều, đừng dùng thêm một loại thuốc ho khác hoặc đổi thuốc ho mà  tốt nhất là cần đi khám bệnh. 
Không dùng thuốc tan đàm vào buổi tối
Thuốc làm loãng đàm và tan đàm không nên dùng vào buổi tối vì khi ngủ hoạt động của nhung mao ở niêm mạc phế quản sẽ giảm, dễ gây ứ đọng đàm trong phổi.

Bệnh viêm phổi ở người cao tuổi nguyên nhân và phòng tránh

Những người mắc bệnh viêm phổi thường khó thở hoặc thở nhanh kèm theo tiếng kêu khè khè.

Một số phương pháp dùng để chẩn đoán bệnh như chụp X quang ngực, thử đờm để phát hiện ra sinh vật gây bệnh, sử dụng kĩ thuật thử test CBC để kiểm tra số lượng tế bào máu trắng, nếu cao là bị bệnh do vi khuẩn.
1. Định nghĩa bệnh viêm phổi
Bệnh viêm phổi (Pneumonia) hay còn có tên gọi khác là bệnh viêm phổi mang tính tiếp xúc cộng đồng mắc phải (Community-Acquired Pneumonia); bệnh viêm phổi khu trú hay viêm phế quản-phổi (Broncho Pneumonia).
Đây là căn bệnh viêm nhiễm gây nên bởi các loại sinh vật gây bệnh, như vi khuẩn, virút, nấm và là căn bệnh có tỉ lệ người mắc rất cao, từ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong. Mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh, độ tuổi cũng như tình trạng sức khoẻ của mỗi người.
Hút thuốc lá gây hại cho phổi











Viêm phổi do vi-rút là dạng bệnh nan y nhất thường gặp ở người cao tuổi và trẻ em, thủ phạm chính là do virút Streptococcus pneumoniae hay còn gọi là vi-rút Pneumococcus. Các loại vi-rút gây bệnh về đường hô hấp là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi nhiều nhất ở nhóm trẻ từ 2 đến 3 tuổi, đến tuổi đi học trẻ thường bị viêm phổi do vi-rút Mycoplasma pneumoniae gây ra. 
Trong một số trường hợp, nhất là người già, bệnh viêm phổi thường diễn ra sau khi mắc phải bệnh cúm, cảm lạnh hoặc bị lây bệnh ngay trong bệnh viện, lí do hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu, hoặc cũng có trường hợp viêm nhiễm do khuẩn nhờn thuốc.
2. Dấu hiệu và triệu chứng
- Ho kèm theo đờm xanh hoặc đôi khi có máu.
- Sốt run rẩy.
- Đau tức ngực nhất là khi thở sâu hay ho.
- Thở gấp,thở nhanh và khó thở.
- Ngoài ra, còn xuất hiện một số triệu chứng như đau đầu, ra nhiều mồ hôi, da tái nhợt, ăn không ngon miệng, mệt mỏi và nếu là người già thường xuất hiện tình trạng lộn xộn, đờ đẫn.
3. Chẩn đoán và điều trị
Những người mắc bệnh viêm phổi thường khó thở hoặc thở nhanh kèm theo tiếng kêu khè khè. Một số phương pháp dùng để chẩn đoán bệnh như chụp X quang ngực, thử đờm để phát hiện ra sinh vật gây bệnh, sử dụng kĩ thuật thử test CBC để kiểm tra số lượng tế bào máu trắng, nếu cao là bị bệnh do vi khuẩn. Thử máu để kiểm tra hàm lượng oxy, thử test bằng kĩ thuật thoracic CT, sử dụng kĩ thuật quét Scan, ...
Nếu viêm phổi do khuẩn gây ra thì có thể dùng kháng sinh, còn do vi-rút thì thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng, cũng có trường hợp rất khó phát hiện giữa vi-rút và vi khuẩn, trong trường hợp này người ta thường kê đơn kháng sinh. 
Trường hợp mắc bệnh mạn tính, có các triệu chứng nguy hiểm hoặc có hàm lượng oxy trong máu thấp thì nên vào viện điều trị dùng kháng sinh liều cao hoặc áp dụng liệu pháp oxy. 
Trong trường hợp điều trị ở nhà nên tăng cường uống nước để giúp cho việc thở dễ dàng, nghỉ ngơi và làm những việc nhẹ, sử dụng aspirin hoặc acetaminophen để giảm sốt, tuyệt đối không được dùng aspirin cho trẻ nhỏ. Kể cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể đưa vào viện để điều trị, nhưng chỉ nên nhập viện trong các trường hợp sau:
- Có các dấu hiệu xấu về đường hô hấp.
- Thở dốc, khó thở, lạnh run, sốt liên tục.
- Thở nhanh và đau ngực.
- Ho nhiều kèm theo đờm xanh đen và có máu.
- Đau ngực nhất là khi ho.
- Ra nhiều mồ hôi vào ban đêm và sút cân không rõ lí do.
- Sức khoẻ hệ miễm dịch suy yếu như người mắc bệnh HIV, sử dụng Steroid dài kì và những người đang trong giai đoạn sử dụng liệu pháp hoá trị liệu.
4. Cách phòng ngừa
- Thường xuyên rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng nhất là khi xì mũi, sau khi đi vệ sinh tiểu đại tiện, trước khi chuẩn bị ăn uống hay chuẩn bị thức ăn.
- Không nên hút thuốc lá vì có thể gây phá huỷ phổi, giảm các chức năng hô hấp vốn có của phổi và làm tăng nguy cơ viêm nhiễm và nhiều chứng bệnh nan y khác.
- Khi làm vệ sinh nhà cửa hoặc những vùng bụi bẩn nên đeo khẩu trang.
Ngoài ra, để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh viêm phổi nhất là ở trẻ em và người già, người mắc bệnh tiểu đường, hen xuyễn, bệnh tràn dịch phổi, bệnh HIV, ung thư và các loại bệnh mạn tính khác nên tiêm phòng vac-xin như vac-xin viêm phổi Pneumovax và Prevnar, hai loại này có tác dụng phòng chống vi-rút Streptococcus pneumoniae rất tốt.
- Vac-xin cúm có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm phổi và các chứng viêm nhiễm gây nên bởi vi-rút cúm influenza. Vac-xin này được tiêm hàng năm vì vi-rút liên tục phát triển.
-Vac-xin Hib có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm phổi ở trẻ em, đặc biệt là vi-rút Haemophilus influenzae tuýp b.
Trường hợp đang điều trị tại bệnh viện nên tập cách thở sâu, giúp cho phổi làm việc tốt và nhanh phục hồi nhất là sau khi phẫu thuật. Ngoài ra, cũng có thể sử dụng máy thở để hỗ trợ thở sâu. Những người mắc bệnh ung thư, HIV nên tư vấn bác sĩ về cách phòng bệnh viêm phổi cho phù hợp với hoàn cảnh của bản thân.

Dấu hiệu bé bị viêm phổi mùa nắng nóng

Một khi trẻ có những biểu hiện của việc như thở khò khè hay chảy nước mũi, cha mẹ cần nghĩ ngay tới trường hợp con mình rất có thể đã bị viêm phổi.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm phổi ở trẻ
Những ngày hè nắng nóng, dù là người lớn hay trẻ nhỏ đều có nhu cầu giải nhiệt cho cơ thể. Thế nhưng giải nhiệt như thế nào, bằng cách nào thì lại là vấn đề đang được nhiều người quan tâm, bởi nếu sử dụng không đúng cách có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe.
Không thể phủ nhận sự dễ chịu do điều hòa nhiệt độ mang lại, nhưng lạm dụng cũng dẫn tới những tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ em. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa phòng lạnh và ngoài trời quá lớn khiến trẻ em khó thích nghi, hơn nữa, việc ngồi trong phòng điều hòa quá lâu khiến da trẻ bị khô, khô họng khiến trẻ dễ bị viêm đường hô hấp trên. 
Hơn nữa, trẻ dễ bị các loại vi sinh vật tấn công, nhất là các loại vi khuẩn gây viêm đường hô hấp như H. influenzae, phế cầu, liên cầu …Nếu không được chăm sóc tốt cũng có thể làm trẻ bị viêm phổi.
  • Dấu hiệu bé bị viêm phổi mùa nắng nóng
    Ảnh minh họa.
Cũng tại nóng nực, trẻ thích tắm nhiều lần trong ngày hoặc ngâm mình dưới nước với thời gian lâu… Đó cũng là nguyên nhân làm trẻ rất dễ bị cảm lạnh gây viêm họng, viêm amiđan hoặc nặng hơn là viêm phổi. Một số trẻ sau khi tắm xong thấy sốt cao, đau họng, chảy nước mũi, thậm chí khó thở, đó là dấu hiệu của viêm đường hô hấp cấp tính.
Dấu hiệu nhận biết trẻ bị viêm phổi
Trẻ sốt rất cao và dai dẳng: Sốt cao thường là do virus và vi khuẩn gây ra. Sốt cao sẽ gây ra co giật, mệt mỏi, mất nước, trẻ quấy khóc, bỏ bú, ngủ không sâu. Sốt cao chính là nguyên nhân góp phần làm nặng thêm các rối loạn của bệnh. Khi đang điều trị thuốc mà liên tục từ 3 ngày trở lên trẻ có biểu hiện sốt cao trên 39 độ C thì nên đưa ngay đến bệnh viện để kiểm tra.
Thở nhanh: Quan sát nhịp thở của bé bằng cử động của lồng ngực. Bạn có thể đặt tay lên lồng ngực của trẻ để đếm từng nhịp thở. Nếu tần số thở trong 1 phút là trên 60 lần/phút với trẻ sơ sinh thì hãy coi chừng, đó là dấu hiệu bệnh đang tiến triển nặng và rất nặng. Không chần chừ, đưa trẻ đến gặp bác sĩ ngay.
Tím tái: Tím tái là biểu hiện cơ thể bé từ mặt, chân, tay cho đến thân mình đều có biểu hiện da nhợt nhạt và tím lại thì đó là dấu hiệu của rối loạn hô hấp. Viêm phổi lúc này đã xảy ra khá nặng, cần đưa bé đi cấp cứu càng sớm, càng tốt.
- Bé không mở mắt phản ứng với mẹ hay không có cảm giác tiếp xúc với mẹ. Như thế là bé đang quá mệt hoặc là bé đang rơi vào trạng thái thần kinh u ám. Không có lí do gì giữ bé ở nhà trong trường hợp này.
Các biểu hiện của bệnh diễn ra nhanh, cấp tập, trầm trọng và chỉ trong một thời gian ngắn khoảng 1-2 ngày.
Chăm sóc và phòng ngừa bệnh cho trẻ
Mùa nắng nóng, cơ thể thường bài tiết nhiều mồ hôi hơn, cơ thể có nguy cơ thiếu nước và các chất điện giải. Việc bổ sung đủ nước cho trẻ đồng thời cho ăn các loại rau củ quả, trái cây là rất cần thiết vừa bồi phụ nước, cung cấp thêm dinh dưỡng và vi chất.
Để hạn chế trẻ mắc bệnh trong mùa hè, nhất là bệnh viêm phổi, trước hết trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ, hạn chế cho trẻ dùng nước đá, hoa quả lạnh trong tủ lạnh. Khi sử dụng máy điều hòa nên điều chỉnh nhiệt độ hợp lý không quá chênh lệch với nhiệt độ thời tiết bên ngoài. Không nên để gió của máy điều hoà quạt thẳng vào người trẻ. Mặc dù là mùa nắng nóng nhưng khi tắm cho trẻ, nhất là trẻ dưới 5 tuổi nên dùng nước ấm là tốt nhất và không nên cho tắm nước lạnh.
Trong các trường hợp nhẹ, mới chớm bệnh, các mẹ có thể nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn cho trẻ, cho trẻ súc miệng bằng dung dịch súc họng hoặc nước muối loãng ấm hằng ngày. Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất.
Nếu thấy các triệu chứng viêm phổi nặng hơn, trẻ cần được nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế để thăm khám và điều trị. Không nên tự cho trẻ uống thuốc, đặc biệt là các loại thuốc giảm ho, kháng sinh.

Bệnh hen - “Cái chết bất ngờ” nếu không được chữa trị dứt điểm

Lên cơn hen gây khó thở trầm trọng, không được cấp cứu kịp thời người bệnh có nguy cơ tử vong bất cứ lúc nào.

Ngưng thở khi khám
Một bệnh nhân nam 53 tuổi bị hen phế quản từ năm 25 tuổi nhưng trong suốt thời gian dài, bệnh nhân này chỉ sử dụng thuốc uống hoặc thuốc xịt mỗi lần lên cơn hen. Cách đây vài ngày, khi khó thở, xịt thuốc không đỡ, ông phải vào viện cấp cứu trong tình trạng gần như ngừng thở. 
Nhiều trường hợp hen phế quản phải nhập viện điều trị trong tình trạng khó thở nặng do không điều trị đúng cách, dứt điểm bệnh. (Ảnh minh họa)
Bác sĩ trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân này cho biết, thời gian gần đây, các triệu chứng khó thở, ho khạc ra đờm đặc diễn ra thường xuyên với mức độ trầm trọng hơn. Và trong lúc đang chờ bác sỹ xem kết quả xét nghiệm thì bệnh nhân xuất hiện khó thở tăng dần, khó thở dữ dội, thở rít, co kéo lồng ngực, tím môi đầu chi, nói câu ngắn, sau đó thở yếu, tím toàn thân và ngừng thở.
May mà thời điểm đó có kíp bác sĩ trực đã nhanh chóng tiến hành cấp cứu kịp thời mới cứu được người bệnh. Nếu bệnh nhân đó không cấp cứu kịp thời thì chắc chắn tử vong và nếu chậm khoảng 3 phút thôi, dù tim có thể đập trở lại nhưng tế bào não thiếu oxy không thể hồi phục, có qua khỏi thì cũng chỉ sống thực vật.
Bệnh nhân 63 tuổi ở Đống Đa, Hà Nội đã từng 3 lần phải đi cấp cứu vì lên cơn hen gây khó thở, nhưng khi bác sĩ khám, kê thuốc, nhiều đợt thấy bệnh ổn không có triệu chứng khò khè lại dừng thuốc. Tuổi già rồi, cứ khi nào có biểu hiện hen thì mới nhớ, mà khi đã ổn định thì quên luôn việc vẫn phải dùng thuốc dự phòng - bác chia sẻ.
Chính cách điều trị sai lầm khi chỉ dùng thuốc cắt cơn hen mà không điều trị dự phòng thường khiến cho tình trạng bệnh trở nặng hơn, tần suất lên cơn hen tăng và mức độ nghiêm trọng của cơn hen cấp tăng lên, dễ dẫn tới tử vong.
Điều trị dự phòng đúng cách bằng thuốc hen thảo dược
Lựa chọn thuốc thảo dược để điều trị dự phòng hen phế quản đang là xu hướng đem lại hiệu quả cao trong điều trị và kiểm soát bệnh hen. Thuốc hen thảo dược được bào chế dạng cao lỏng, hàm lượng dược liệu cao, có tác dụng phòng ngừa cơn hen tái phát, nhờ cơ chế tác động TẬN GỐC nguyên nhân gây bệnh theo nguyên lý của y học cổ truyền nên hiệu quả cao trong điều trị, lại an toàn, không có tác dụng phụ và không gây nhờn thuốc.
Sau thời gian uống thuốc hen thảo dược 4 tuần, bệnh nhân sẽ thấy cơn hen thưa và nhẹ dần, đờm loãng và tống xuất ra ngoài, ho giảm, phế quản thông thoáng và dễ thở hơn. Công năng tỳ vị được cải thiện giúp bệnh nhân ăn ngon, ngủ ngon và yên giấc hơn, đặc biệt là thời điểm về đêm, khoảng 2 - 3 giờ sáng.
Khi điều trị đủ đợt (8 - 10 tuần), bệnh nhân không còn lên cơn hen, khỏe mạnh hơn, có thể tham gia lao động và sinh hoạt bình thường, cảm thấy yên tâm trước những thay đổi của thời tiết và các tác nhân gây cơn hen kịch phát khác.
Thuốc hen thảo dược được nhiều bác sỹ và bệnh nhân tin dùng trong điều trị tận gốc hen phế quản, ngăn ngừa bệnh hen trở lại.

Bệnh phổi mạn tính: Sử dụng đúng bình xịt định liều thuốc

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và hen phế quản là những bệnh phổi mạn tính.

Cả hai căn bệnh này đều cần dùng thuốc điều trị kéo dài, trong đó, việc dùng thuốc ở bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là thường xuyên và kéo dài gần như suốt cuộc đời người bệnh.

Hầu hết các thuốc dùng trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản hiện nay đều được sản xuất ở dạng phun - hít (thuốc xịt, hít, khí dung). Ưu điểm chính của những dạng này là thuốc đến trực tiếp niêm mạc đường thở, do vậy có tác dụng nhanh và tối ưu, trong khi đó, nồng độ thuốc ngấm vào máu thấp do vậy ít gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, nếu bạn (người bệnh) không dùng đúng cách thì gây lãng phí thuốc mà không mang lại hiệu quả điều trị.

Cần sử dụng bình xịt định liều đúng hướng dẫn.
Cần sử dụng bình xịt định liều đúng hướng dẫn.
Trong số các dụng cụ phân phối thuốc hiện đang có mặt trên thị trường, dạng bình xịt định liều với nhiều ưu điểm vượt trội đang được thầy thuốc kê điều trị khá thường xuyên cho bệnh nhân.
Bình xịt định liều (MDI) là thiết bị cầm tay dùng lực đẩy để phân bố thuốc. Bình xịt được chế tạo ở dạng hộp kim loại, chứa thuốc và chất tạo áp lực. Thuốc được chế tạo để mỗi lần xịt có một lượng thuốc nhất định phóng thích ra. 
Ưu điểm của các thuốc ở dạng bình xịt định liều: dễ mang theo người, khả năng phân phối liều thuốc chính xác, thời gian bảo quản khá lâu, ít nguy cơ nhiễm khuẩn. Thế nhưng, các thuốc ở dạng bình xịt định liều có nhược điểm là để hít được thuốc với liều tối đa cần có sự phối hợp rất chính xác giữa động tác xịt của tay và động tác hít của miệng. 
Nếu tay đã xịt mà miệng chưa kịp hít hoặc miệng hít mà tay chưa xịt thì đều gây lãng phí thuốc, mà lại không mang lại hiệu quả điều trị cần thiết.
Các bước dùng thuốc
Để dùng đúng dạng thuốc này, người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ những bước sau:
Bước 1: Lắc đều bình thuốc bằng cách giữ bình thuốc thẳng đứng, đáy ở trên, miệng hộp thuốc ở dưới, lắc nhẹ bình thuốc 4 - 5 lần. Việc lắc đều bình thuốc trước khi xịt giúp thuốc được trộn đều, hoạt động của chất tạo áp lực đẩy đạt tối đa.
Bước 2: Mở nắp bình thuốc (bước 1 và bước 2 có thể đổi thứ tự cho nhau). Phải mở nắp bình thuốc thì mới xịt thuốc ra được. Trong thực tế đã xảy ra trường hợp không mở nắp hộp thuốc, do đó việc xịt thuốc không có hiệu quả.
Bước 3: Thở ra thật hết. Người bệnh thở ra nhẹ nhàng cho đến thật hết thì nín thở để bắt đầu bước tiếp theo. Đây là động tác làm giảm tối đa lượng khí trong phổi trước khi hít thuốc. Nếu không thực hiện tốt động tác này thì sẽ không thể hít và đưa sâu thuốc vào trong phổi được.
Bước 4: Ngậm kín miệng bình thuốc và xịt. Đây là bước rất quan trọng, người bệnh sau khi đã thở ra thật hết, miệng ngậm kín bình thuốc, ngón cái hoặc ngón trỏ đặt sẵn vào đáy bình thuốc. Thực hiện đồng thời việc nhấn đáy bình thuốc và động tác hít vào chậm, đều và thật sâu ngậm kín để tránh thoát thuốc khi xịt ra xung quanh. 
Việc phối hợp tốt giữa động tác bấm xịt của tay và hít ngay thuốc là rất quan trọng. Nếu việc phối hợp không tốt dễ gây thoát thuốc ra xung quanh. Ở động tác này, người bệnh có thể ngồi trước gương và xịt thuốc, nếu khi xịt thuốc mà không thấy thuốc bay ra qua miệng hoặc mũi thì cũng đồng nghĩa với việc phối hợp giữa tay bấm xịt và miệng hít đã tương đối đúng và nhuần nhuyễn. 
Sau khi đã xịt thuốc, cần hít vào chậm, đều và sâu hết sức để đưa lượng lớn nhất của thuốc vào sâu trong đường thở.
Bước 5: Nín thở. Ngay sau hít vào chậm, đều và thật sâu, người bệnh cần nín thở, đếm nhẩm trong đầu từ 1 - 10 hoặc cho đến khi thấy tức thở. Việc nín thở giúp thuốc có thời gian lắng đọng lại lên bề mặt niêm mạc đường thở.
Bước 6: Thở ra. Người bệnh thở ra chậm và từ từ sau khi đã kết thúc bước 5.
Lặp lại quá trình trên khi cần dùng những liều thuốc tiếp theo.
Cách vệ sinh bình xịt định liều
Bình xịt định liều cần được vệ sinh đúng cách. Để vệ sinh bình xịt định liều cần làm theo các bước sau: Tháo bình thuốc ra khỏi vỏ, đồng thời tháo bỏ nắp đậy; Đổ liên tục nước nóng qua vỏ nhựa trong 30 - 60 giây. 
Không rửa hoặc nhấn chìm bình đựng thuốc; Vẩy khô vỏ nhựa hoặc để qua đêm cho khô hoàn toàn. Nếu cần dùng ngay, tiến hành vẩy khô, sau đó lắp bình thuốc và xịt bỏ 2 liều đầu tiên.
Cách xác định bình thuốc đã hết
Một số thuốc dạng bình xịt định liều có cửa sổ liều ở bên cạnh hộp thuốc, trong trường hợp này chỉ cần nhìn số ở cửa sổ này, khi về số "0" có nghĩa là không còn liều nào trong bình xịt. Trong trường hợp không có cửa sổ liều bên cạnh, cần ghi ngày bắt đầu dùng lên trên vỏ bình thuốc. 
Nếu bệnh nhân dùng đều (chẳng hạn mỗi ngày 3 lần, mỗi lần xịt 2 liều) khi đó chỉ cần chia số liều mỗi hộp thuốc có (xem trên vỏ hộp thuốc hoặc hỏi bác sĩ) cho số ngày dùng là biết trong bình thuốc còn hay hết.
Trường hợp bình xịt định liều chỉ dùng trong tình huống cấp cứu: khi đó, bạn cần ghi ngày dùng lên trên vỏ hộp thuốc, ước tính số liều dùng hàng ngày, sau đó chia đều để ước tính còn thuốc hay hết thuốc. Dù chưa hết thuốc trong bình xịt thì bạn vẫn nên thay bình sau mỗi 6 tháng.
Việc sử dụng thuốc đúng cách có vai trò đặc biệt quan trọng, do đó bệnh nhân nên được hướng dẫn đầy đủ và đúng cách. Ngay sau khi được nghe bác sĩ, nhân viên y tế hướng dẫn cách dùng thuốc, người bệnh nên dùng thử ngay trước mặt nhân viên y tế để khẳng định việc đã hiểu và làm đúng cách, bên cạnh đó, người bệnh luôn mang theo các bình thuốc để dùng thử trước mặt bác sĩ ở mỗi lần tái khám.

Thuốc trị ho và các lưu ý đặc biệt

Ho là phản xạ xảy ra đột ngột và lặp đi lặp lại nhằm làm sạch đường thở khỏi bị ứ đọng các chất dịch tiết, chất kích thích, vật lạ, vi khuẩn...

Ho có thể xảy ra bất kỳ thời tiết nào trong năm. Vào mùa hè, dưới tiết trời nắng nóng, cơ thể ra nhiều mồ hôi, cộng với việc bị thay đổi nhiệt độ đột ngột khi ra vào phòng điều hòa... nên cũng rất dễ bị ho.
Các dạng ho thường gặp
Ho là một cơ chế sinh lý bảo vệ cơ thể, nhưng cũng là triệu chứng của một số bệnh. Ho gây phiền toái trong sinh hoạt hàng ngày do đó cần được điều trị dứt điểm. Thông thường hay gặp hai loại ho: ho khan và ho có đờm.
Ho khan: thường gây ngứa họng và không có đờm, loại ho này có thể gây khàn giọng hoặc mất giọng. Ho khan thường là do hít phải những mẩu vụn thực phẩm hoặc hít phải các loại khói bụi gây kích thích như khói thuốc, khói than, mùi hóa chất hoặc có thể phản ứng của cơ thể khi thời tiết thay đổi đột ngột.
Ho khan có thể do tình trạng mới nhiễm virut, do cúm hay cảm lạnh, có thể là triệu chứng của các nguyên nhân khác như hen phế quản, trào ngược dạ dày, thực quản, suy tim. Một số người sử dụng các thuốc ức chế men chuyển điều trị tăng huyết áp cũng có thể gây ho khan, khi ngừng thuốc sẽ hết ho. Bệnh nhân ho khan thường vẫn cảm thấy khỏe mạnh, không có cảm giác nặng ngực và khó thở.
Khi có hiện tượng ho kéo dài, cần đến bác sĩ khám điều trị. Ảnh: M. Thuận
Khi có hiện tượng ho kéo dài, cần đến bác sĩ khám điều trị. Ảnh: M. Thuận
Ho có đờm: có đặc trưng là nặng ngực và cơn ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân có cảm giác nghẹt thở và khó thở, thường làm cho người bệnh mệt lả. Các triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho đờm có thể là triệu chứng còn lại sau khi viêm họng, viêm mũi và viêm xoang... Nguyên nhân gây ho thường tùy thuộc vào thời gian xuất hiện triệu chứng.
Các thuốc trị ho
Thuốc chữa ho có nhiều loại như siro, viên uống, viên ngậm với nhiều thành phần khác nhau như: chất kháng khuẩn, giảm đau, kháng viêm hoặc thuốc tê.
Thuốc đặc trị ho khan có: codein, eucalyptine, dextromethorphan, pholcodine, calyptin, chericof, neo-codion... Trong các loại thuốc trên, thuốc giảm ho dextromethorphan được chỉ định tốt trong trường hợp ho khan, mạn tính vì không gây nghiện, không có tác dụng giảm đau và rất ít tác dụng an thần. Do ức chế trung tâm ho, dextromethorphan có tác dụng chống ho tương tự codein nhưng ít gây tác dụng phụ hơn. Thận trọng khi sử dụng thuốc này cho người có nguy cơ hoặc đang suy giảm hô hấp, tiền sử bị hen, dị ứng.
Thuốc trị ho có đờm: mucomyst, mucusan, rinathiol promethafine, terpicod, terpin hydrat... Thông thường mỗi đợt điều trị chỉ nên dùng từ 3 - 5 ngày, không dùng kéo dài.
Ho có đờm thường liên quan đến các bệnh đường hô hấp mạn tính. Việc dùng các thuốc long đờm, tiêu chất nhầy, giãn phế quản kết hợp với corticoid, các enzym (serrapeptase hoặc chymotrypsin) và kháng sinh là khá hữu ích. Tuy nhiên, các thuốc long đờm, tiêu chất nhầy giúp làm tăng thể tích các dịch tiết đường hô hấp để chúng dễ bị bật ra ngoài, tránh vướng cổ gây khó chịu. 
Thuốc có thể gây các cục đờm, đôi khi làm tắc nghẽn đường thở, có thể gây tràn dịch phổi (ngập) và phá hỏng lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cần thận trọng với người có tiền sử loét dạ dày - tá tràng. Không dùng loại thuốc này cho người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em và phụ nữ cho con bú.
Lưu ý đặc biệt khi điều trị ho
Ho chỉ là triệu chứng của một bệnh nên việc điều trị ho phải song song điều trị nguyên nhân gây bệnh thì triệu chứng ho sẽ giảm. Trong trường hợp ho khan do cảm cúm, chỉ cần điều trị chứng cảm cúm thì tình trạng ho cũng dần dần tự khỏi.
Tuy nhiên, khi ho nếu thấy có kèm theo bất kỳ một trong những biểu hiện sau, bạn cần phải đi khám bệnh ngay để có hướng điều trị tích cực, tránh những biến chứng nguy hiểm: ho có đờm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, ho ra mủ có mùi hôi; ho có kèm đau ngực; ho có khó thở hay khò khè; có triệu chứng phù hai chân; ho thường tái đi tái lại vào ban đêm; ho ở người hút thuốc, khi triệu chứng này trở nên nặng hơn; sút cân đột ngột; sốt, vã mồ hôi; khản tiếng ở người ho mạn tính.
Không dùng thuốc làm giảm ho trong trường hợp ho có đờm (trong bệnh viêm phế quản mạn, giãn phế quản) vì ho được coi như cơ chế bảo vệ có lợi, làm sạch đường thở.
Khi dùng thuốc trị ho phối hợp nhiều thành phần gồm: kháng sinh, sát khuẩn (guaifenesin), opioid, các chất làm long đờm, tiêu chất nhầy, đặc biệt là các chất giống giao cảm và kháng histamin - hai chất này có rất nhiều tác dụng phụ nặng nề với những người tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, bệnh tuyến giáp, glaucom, u phì đại tuyến tiền liệt, người mang thai, trẻ em và người cao tuổi, người suy hô hấp, bệnh tim, tai biến mạch máu não. 
Cần cân nhắc và thận trọng với các biệt dược như ameflu, atussin, tiffy... vì đó đều là những thuốc phối hợp từ 3 đến 5 chất, ngoài tác dụng phụ lại còn tương tác bất lợi với các thuốc khác dùng cùng lúc. Do vậy, người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ chỉ định của thầy thuốc.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Trị viêm phế quản tại nhà hiệu quả

Viêm phế quản là một trong những bệnh lý về đường hô hấp phổ biến nhất trong mùa mưa và có thể trị dứt bằng những bài thuốc dân gian.

Để kiểm soát nhanh chóng những triệu chứng khó chịu do viêm phế quản gây ra như ho, chảy mũi hay đờm…, thuốc kháng sinh vẫn là giải pháp hữu hiệu. Tuy nhiên, trước khi sử dụng kháng sinh, bạn có thể áp dụng những phương thuốc từ thiên nhiên khá đơn giản và an toàn khi mới khởi bệnh, hay dùng song song với kháng sinh để đẩy nhanh tốc độ điều trị.
Viêm phế quản là gì?
Viêm phế quản được hiểu là tình trạng niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm (sưng phồng và dầy lên), làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản. Bệnh diễn tiến theo 2 dạng: cấp tính (kéo dài không quá 6 tuần) và mạn tính (tái phát nhiều lần trong vòng 2 năm).
Viêm phế quản cấp tính là bệnh nhiễm trùng phổ biến, phần lớn đều do một loại vi-rút gây cảm cúm hay ho gây ra, hoặc cũng có thể xuất phát từ các loại vi khuẩn, nấm khác nhau. Thông thường, viêm phế quản thường xảy ra sau khi bạn bị cảm, ở thời điểm sức đề kháng đã suy yếu. Nếu không được điều trị kịp thời, viêm phế quản có thể dẫn tới viêm phổi.
Những triệu chứng điển hình của viêm phế quản
- Ho dai dẳng, có kèm theo đờm
- Thở khò khè
- Cảm giác khó chịu ở ngực
- Hơi thở ngắn
Cách điều trị viêm phế quản tại nhà
Bên cạnh việc sử dụng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ điều trị để hạn chế sự tích tụ của đờm, bạn có thể áp dụng những cách chữa viêm phế quản tại nhà dưới đây
1. Súc miệng bằng nước muối
Mỗi khi ho, bạn nên cố gắng khạc bỏ bớt lượng đờm, dãi và dịch nhầy đang tích tụ trong cuống họng. Súc miệng bằng nước muối loãng là cách để làm sạch vi khuẩn trong miệng và cổ họng. Cho thêm một ít bột nghệ vào nước súc miệng sẽ giúp cho đường thở thông thoáng hơn.
2. Dầu khuynh diệp
Hương thơm của dầu khuynh diệp có thể làm dịu những cơn đau đầu hoặc tình trạng nghẹt mũi. Bạn chỉ cần nhỏ vài giọt dầu khuynh diệp vào khăn tay và ngửi chúng thường xuyên. Loại dầu này có khả năng tiêu diệt các loại vi trùng gây bệnh, làm dịu các cơn ho và cải thiện mức độ thông thoáng của đường thở bằng cách làm giảm mức độ co khít của các cơ ở khu vực này.
3. Thức uống nóng
Trong giai đoạn đang bị viêm phế quản, hệ thống cơ quan hô hấp cần có đủ độ ẩm để làm dịu cảm giác buốt rát. Bạn có thể lựa chọn rất nhiều loại thức uống nóng như nước ấm, trà, cà phê, sô-cô-la hay các món canh, súp để giữ cho cuống họng không bị khô, nóng - vốn vẫn là nguyên nhân gây ra cảm giác ngứa, rát khiến bạn rất dễ ho.
4. Hạnh nhân
Ăn hạt hạnh nhân khi bụng đói, uống kèm 1 ly sữa nóng rất có ích cho người đang bị viêm phế quản. Chú ý nhai hạt hạnh nhân thật kỹ cho dễ tiêu hóa. Bạn cũng có thể giã nát vài hạt hạnh nhân đã ngâm, vắt lấy nước cho vào nước cam để uống. Hạt hạnh nhân giàu các khoáng chất như can-xi, ma-giê và kali, giúp loại trừ vi khuẩn gây viêm phế quản.
5. Ớt
Ăn ớt là cách để cải thiện tình trạng tích tụ dịch nhầy ở họng, giúp đờm loãng và tiêu nhanh hơn. Hãy cho thêm ớt vào các món ăn hàng ngày trong giai đoạn bị bệnh. Những món ăn có nhiều gia vị cay, nóng cũng là lựa chọn lý tưởng khi các cơn cảm, cúm hay viêm phế quản kéo dài dai dẳng.
6. Tỏi và mật ong
Đây được xem là một trong những cách trị viêm phế quản từ dân gian hiệu quả nhất. Chỉ cần băm nhỏ vài tép tỏi hoặc củ hành rồi trộn chung với mật ong và nuốt trọng (không được nhai) hai lần mỗi ngày.
Cả hành và tỏi đều có công dụng kháng khuẩn, giúp cơ thể nhanh phục hồi. Mật ong sẽ hỗ trợ miễn dịch cho cơ thể bằng cách diệt trừ vi khuẩn, bổ sung năng lượng hoạt động và cung cấp nhiều dưỡng chất thiết yếu.
7. Quế
Sự kết hợp giữa quế và mật ong - những loại thực phẩm vốn rất giàu các enzyme và chất chống ô-xy hóa sẽ kích thích cơ thể sản xuất ra nhiều các tế bào máu trắng để đánh bại bệnh tật, tăng cường sức mạnh cho hệ miễn dịch. Mật ong cũng sẽ xoa dịu tình trạng đau rát ở cổ họng.
8. Trà
Hãy nhâm nhi tách trà nóng thường xuyên hơn khi đang bị viêm phế quản. Có thể cho thêm vào trà một ít lá húng tây, đây vẫn được xem là cách trị viêm phế quản tại nhà khá hiệu quả.
9. Uống nhiều nước
Nước là loại “thuốc” giúp phân giải dịch nhầy tự nhiên. Phần lớn chúng ta đều chọn cách uống thuốc long đờm (các loại si-rô trị ho) để làm tiêu dịch nhầy, mà quên rằng uống nhiều nước lọc cũng sẽ có tác dụng tương tự. Nếu cổ họng đang đau rát, bạn nên uống nước ấm thường xuyên để làm dịu cơn đau họng.

Theo Hồng xuân - Phụ Nữ thành phố