Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

Nhận biết dấu hiệu bạn bị ung thư phổi

Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất do các khối u ác tính gây ra.

Như hầu hết các bệnh ung thư khác, ung thư phổi cũng có cơ hội được chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện sớm.
 Dưới đây là những triệu chứng ung thư phổi dễ phân biệt nhất

Nói chung, khi bị ung thư phổi, người bệnh có thể thấy các triệu chứng chung là có nhiều thay đổi có thể xảy ra trong phổi và vùng ngực. Chẳng hạn như:

- Ho dai dẳng và liên tục

- Đau ở lưng, ngực và vai. Tuy nhiên, mỗi người lại có cảm nhận cơn đau khác nhau, nhất là trong những lúc ho

- Thay đổi về lượng và màu sắc của đờm

- Khó thở

- Giọng nói thay đổi, trở nên khàn khàn

- Nói khó khăn qua từng hơi thở

- Ho ra máu

- Mất cảm giác ngon miệng, giảm cân và liên tục mệt mỏi

- Đau xương và khớp, sưng ở cổ và mặt

- Dễ bị chảy máu
Ngoài ra còn có các triệu chứng ít gặp hơn như:

- Giọng nói khàn

- Nuốt khó

- Có thay đổi trong hình dạng của ngón tay và móng tay

- Tắc nghẽn mạch máu ở vùng mặt

- Khó thở

Có một số loại tế bào ung thư phổi khi vào máu có thể dẫn đến các triệu chứng liên quan đến nội tiết tố, bao gồm:
- Yếu trong cơ bắp

- Tê các ngón tay

- Buồn ngủ, chóng mặt và sự nhầm lẫn

- Sưng ngực ở nam giới

- Cục máu đông
 
Có nhiều bí quyết hướng dẫn bạn phòng ngừa bệnh ung thư phổi. Một số cách dưới đây được coi là hiệu quả tương đối cao mà bạn nên thực hiện hàng ngày.

- Chú ý đến trọng lượng cơ thể

- Tập luyện 30 phút để cơ thể ra mồ hôi

- Uống trà và cà phê ở mức vừa phải

- Tăng cường ăn các loại rau quả tươi

- Tránh xa cám dỗ của chất béo

- Ăn nhiều cá, thịt gà: Ít sử dụng thịt lợn, thịt bò, thịt dê

- Bỏ rượu, thuốc lá và thói quen ăn trầu

- Ăn ít muối

- Luôn giữ cho tâm hồn thanh thản, giảm bớt stress.
 
 (Theo Afamily)

Phòng bệnh hen suyễn ở người cao tuổi

Không hút thuốc lá, tránh ăn các loại thức ăn có nguy cơ cao gây hen suyễn hoặc làm cho bệnh nặng thêm như: tôm, cua...

Bệnh hen suyễn (HS) là một bệnh mạn tính thuộc hệ thống đường dẫn khí (Chủ yếu là các phế quản), HS ở người cao tuổi (NCT) trong những trường hợp cấp tính là một bệnh cấp cứu và có thể để lại nhiều biến chứng nặng nề.
Nguyên nhân chính gây nên bệnh
Có thể bị mắc bệnh HS từ lúc còn rất nhỏ mà người ta thường gọi là “hen sữa”. Có nhiều trường hợp càng lớn lên bệnh càng thuyên giảm và hết hẳn, nhưng cũng có không ít trường hợp bệnh không dứt điểm và cũng có trường hợp lúc nhỏ không bị HS nhưng về già lại mắc chứng bệnh này.

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên bệnh HS nhưng chủ yếu là do yếu tố cơ địa dị ứng. Cơ thể khi gặp các dị ứng nguyên (chất lạ đối với cơ thể) hoặc các chất có tính chất kích ứng thì gây nên phản ứng dị ứng và bị lên cơn HS. Người ta cũng đề cập đến HS dễ gặp ở những người có cơ địa dị ứng như: viêm mũi dị ứng, bệnh mề đay, bệnh viêm da dị ứng, bệnh tổ đĩa, bệnh chàm.
 
Đối với NCT, do đặc điểm sinh lý đã dần dần thay đổi, mọi chức năng sinh lý đã bắt đầu hoặc đã suy giảm, trong đó chức năng sinh kháng thể suy giảm rõ rệt nên dễ mắc các bệnh về nhiễm trùng, dễ bị kích ứng với tác nhân lạ như: bụi bẩn, khói thuốc, khói bếp, thời tiết thay đổi, lông một số động vật nuôi trong nhà như: chó, mèo; một số ký sinh trùng như: mạt, mò, nấm mốc…
 
Một số thực phẩm cũng có thể kích thích gây nên cơn HS hoặc làm cho bệnh HS tăng lên như: tôm, cua, mắm tôm. Ngoài ra, một số thuốc có tác dụng phụ là gây bệnh hen hoặc làm cho bệnh hen tăng lên như một số thuốc điều trị bệnh về khớp, thuốc điều trị tăng huyết áp (atenolol…).
Triệu chứng thường thấy ở NCT bị bệnh hen
Người bệnh bị HS mạn tính thường mệt mỏi do thiếu oxy trường diễn. Hầu như ít khi bị lên cơn hen mà có triệu chứng báo trước. Khi lên cơn hen thường khó thở (chủ yếu là khó thở ra do phế quản bị co thắt), làm người bệnh rất mệt mỏi, đôi khi thấy môi bị tím tái, lồng ngực, cơ hoành bị co kéo.
 
Người bệnh thường phải ngồi dậy để thở, kèm theo là tiếng khò khè trong ngực, xuất tiết nhiều chất đờm, giải. Bệnh nhân có thể có sốt do bội nhiễm. Ở NCT thường sốt nhẹ hoặc không sốt, do phản ứng của cơ thể bị suy giảm. Đối với người bị bệnh HS, nhất là NCT khi bị viêm nhiễm kèm theo, nhất là do các vi sinh vật gây bệnh cơ hội thì niêm mạc đường hô hấp sẽ làm sưng nề.
Khi phế quản đã bị co thắt kèm theo viêm nhiễm làm sưng nề thì bệnh càng nặng thêm. Ho là một triệu chứng gần như luôn luôn thấy ở NCT bị HS, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng quá, lạnh đột ngột) hoặc lao động nặng hoặc khi gắng sức (bưng bê vật nặng, lên cầu thang). Ho kéo dài nhiều ngày và xảy ra vào ban đêm nhiều hơn, nhất là lúc bệnh nặng lên và hay xảy ra vào lúc giữa đêm về sáng. Ho là một phản xạ trong bệnh HS do phế quản bị phù nề kèm theo bị co thắt mạnh.
Bệnh HS mạn tính ở NCT nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng phác đồ, không thường xuyên thì có thể gây nên một số biến chứng nguy hiểm như: tâm phế mạn, khí phế thủng, tràn khí màng phổi hoặc nhiễm bệnh lao kèm theo…
Một số biện pháp phòng bệnh
NCT cố gắng không để mắc các bệnh về đường hô hấp. Muốn vậy cần vệ sinh răng miệng thật tốt, nhất là người mang răng giả. Khi có nghi ngờ mắc bệnh đường hô hấp, nhất là những người có cơ địa dị ứng cần phải đi khám bệnh ngay và điều trị dứt điểm. Cần nghe theo lời tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình.
Những người đã mắc bệnh hen thì ngoài điều trị bệnh khi lên cơn hen, việc điều trị dự phòng là hết sức quan trọng nhằm ngăn ngừa bệnh tái phát, cũng như nhằm ngăn ngừa bệnh nặng thêm.
Không hút thuốc lá, thuốc lào; tránh ăn các loại thức ăn có nguy cơ cao gây HS hoặc làm cho bệnh nặng thêm như: tôm, cua...
Không nên nuôi chó, mèo trong nhà khi có người mắc bệnh HS. Tập thể dục đều đặn hàng ngày cũng là một biện pháp phòng bệnh HS và cải thiện cuộc sống, đặc biệt là vươn vai và tập hít thở thật sâu.
 
 (Theo Sức khỏe & Đời sống)

Làm gì khi bị ho?

Luyện tập thể dục thể thao, ăn uống hợp lý, vệ sinh răng miệng hằng ngày… là cách giúp “chiến thắng” bệnh ho nhanh chóng

 

Ho là một động tác thở ra mạnh mẽ giúp bảo vệ phổi chống lại sự xâm nhập và thúc đẩy đào thải đàm, dị vật, vi sinh vật ra ngoài. Các kích thích có thể tạo ra ho gồm: dị vật, khói bụi (khói thuốc, khói bếp, khói lò...), khí độc (hơi một số hóa chất như hơi của khí clo), chất xuất phát từ viêm đường hô hấp, stress tâm lý.
Nguyên nhân gây ra ho
- Ho cấp tính: thường do nhiễm khuẩn ở đường hô hấp hoặc hít phải vật lạ vào đường thở, phù phổi cấp.
- Ho mạn tính: ho kéo dài do viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, lao phổi, ung thư phế quản, viêm họng mạn, suy tim, dùng thuốc, do tâm lý, nghiện thuốc lá...
- Ho khan: là ho mà hầu như không có đờm, càng ho, người bệnh càng cảm thấy rát cổ họng, tức ngực và đôi khi thấy đau ở vùng ngang rốn. Ho khan gặp trong bệnh cúm, cảm lạnh đột ngột, nghiện thuốc lá, người nấu bếp (than, củi, rơm rạ...), stress tâm lý, bệnh viêm phế quản, u lành đường hô hấp, ung thư phế quản, dị vật kẹt ở đường hô hấp dưới, uống thuốc ức chế men chuyển trong bệnh lý tim mạch.
- Ho có đàm: đàm nhầy, đặc, có mủ hoặc có máu. Ho có đàm gặp trong viêm phế quản cấp, viêm phế quản mạn, viêm phế quản co thắt ở trẻ nhỏ, viêm lông ở giai đoạn đầu của bệnh sởi, thủy đậu, giãn phế quản, lao hay nấm, tràn dịch màng phổi.
- Ho ra máu: trước tuổi trung niên thường do hẹp van hai lá, lao, viêm phổi hay giãn phế quản. Sau 40 tuổi thường là ung thư phế quản và lao.
- Ho từng cơn kéo dài kèm chảy nước mắt, mũi như trong bệnh ho gà. Cơn ho thường xuất hiện ban đêm, ho kéo dài làm cho bé mặt đỏ, chảy nước mắt, nước mũi.
- Người ta cũng gặp ho dị ứng mà chưa xác định được nguyên nhân, nhưng khi dùng thuốc chống dị ứng thì hết cơn ho.
Xét nghiệm tìm nguyên nhân
Công thức máu, X-quang tim phổi thẳng, khảo sát đờm tìm vi sinh vật, soi phế quản, đo chức năng phổi.
Thuốc điều trị
Việc dùng thuốc ho cần có chỉ định của bác sĩ, tự ý dùng có khi gây hại, bởi vì ho là một động tác có ích giúp tống xác vi khuẩn và bạch cầu, mảnh niêm mạc phế quản, chất nhầy, nếu chấm dứt ho bằng thuốc thì sẽ làm bệnh nặng và kéo dài thêm
Thuốc hay dùng khi cần phải chống ho như: codein 10mg, codethylin 12,5mg, acetylcystein, bromhexin, viên bạc hà, cao bách bộ, viên cam thảo. Lưu ý uống nhiều nước sẽ giúp làm loãng đàm và bớt ho.
Phòng ngừa
Luyện tập thể dục thể thao, ăn uống hợp lý, vệ sinh răng miệng hằng ngày, tạo môi trường nơi ở trong sạch. Đeo khẩu trang khi ra đường. Giữ ấm nếu trời lạnh. Nếu có nghiện thuốc lá nên bỏ hẳn.
Khi có ho kéo dài hơn 1 tháng, điều trị bằng thuốc không giảm sau khi đi khám lần đầu, nên đến bác sĩ khám lại để tìm đúng nguyên nhân và điều trị đúng. Không tự ý dùng kháng sinh vì kháng sinh chỉ dùng khi biết chắc chắn là có nhiễm khuẩn. Nếu do virus thì không cần thiết dùng kháng sinh, trừ khi có bội nhiễm vi khuẩn.

 (Theo Sức khỏe & Đời sống)

Mối nguy lớn từ những người mắc lao giấu bệnh

Gần 44% dân số Việt Nam bị nhiễm lao. Đáng lo hơn, một tỷ lệ lớn người mắc lao e ngại đi khám, trở thành nguồn lây tiềm ẩn trong cộng đồng.

 

Tại BV Phạm Ngọc Thạch TPHCM, chị K. (48 tuổi, ngụ tại Bình Dương) đến khám lao và các BS dựa vào kết quả cận lâm sàng kết luận chị đã bị nhiễm vi trùng lao. Tuy nhiên, khi trò chuyện với những người xung quanh, chị K. vẫn hồn nhiên nói “oang oang” như lúc chưa có bệnh. Hỏi về cách tránh lây lao cho mọi người, đặc biệt là người thân, chị K. hồn nhiên nói: “Lâu nay vẫn tiếp xúc với mọi người và chẳng thấy ai bị gì cả”.
Nguồn lao ẩn dật
Theo tiến sĩ Đinh Ngọc Sỹ, Chủ nhiệm Chương trình chống lao quốc gia, Việt Nam hiện xếp thứ 12/22 nước có số bệnh nhân (BN) lao nhiều nhất thế giới, đứng thứ 14/27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc. Theo tính toán, mỗi năm, Chương trình phòng chống lao Quốc gia lại phát hiện thêm 100.000 BN và chữa khỏi cho 92% số được phát hiện. Số đông BN khác do tâm lý e ngại nên giấu bệnh, không đi khám và điều trị trở thành mối lo, nguồn lây tiềm ẩn trong cộng đồng. Từ đó tạo nên vòng luẩn quẩn của bệnh lao và đói nghèo.
Mới chỉ có 2 - 3% bệnh nhân lao kháng đa thuốc được điều trị và quản lý
 
Hiện nước ta chỉ phát hiện được khoảng gần 60% số BN lao mới và khoảng 10% bị kháng đa thuốc xuất hiện hàng năm. Đặc biệt, mới chỉ có 2 - 3% số BN lao kháng đa thuốc được điều trị và quản lý. Số còn lại, thậm chí có cả những BN mắc siêu đa kháng thuốc vẫn cư trú tại cộng đồng, không được quản lý.
 
Khi hệ miễn dịch của những đối tượng này kém đi hoặc đến tuổi trung niên, bị cao huyết áp, tiểu đường... sức đề kháng giảm là vi khuẩn lao có cơ hội trỗi dậy. Nếu họ không được điều trị kịp thời thì đây chính là mối nguy lớn làm lây lan căn bệnh này trong cộng đồng.
Rào cản phòng, chống
Theo BS Nguyễn Huy Dũng, Giám đốc BV Phạm Ngọc Thạch TPHCM, lao lây truyền qua tiếp xúc và có thể lây lan qua không khí. Vì thế, khi người nhiễm ho, hắt hơi, cười, khạc nhổ hay hát hò, vi khuẩn sẽ đi vào không khí và người khác dễ dàng bị lây nhiễm khi đụng phải, hít phải.
 
Tuy nhiên, khi số người mắc bệnh lao không điều trị do tâm lý e ngại dẫn đến hệ quả, bệnh lao dễ chữa cũng trở thành khó chữa. Bên cạnh đó còn nhiều bệnh nhân lao bỏ trị, thậm chí là người mắc lao đa kháng thuốc cũng từ chối điều trị dù thuốc được cung cấp miễn phí. Đây chính là khó khăn lớn trong công tác phòng chống lao.
 
Hiện nay, BN lao đang có xu hướng trẻ hóa, tập trung ở nhóm thanh niên từ 15 - 24 tuổi, trong khi cán bộ phòng chống lao lại “già đi”, không tìm được người thay thế. Đã vậy, có đến hơn 50% cán bộ chống lao ở tuyến huyện chưa được đào tạo bài bản và thiếu kinh nghiệm. Sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực đảm nhận công tác phòng chống lao chính là nguyên nhân sâu xa của việc chỉ có khoảng một nửa số BN lao được phát hiện. Để tăng cường nguồn lực chống lao, BS Nguyễn Huy Dũng cho rằng, cần có sự tham gia của tất cả các cơ sở y tế công – tư, bất kể là của cá nhân hay tập thể trong công tác phòng chống lao. 
Đến đầu năm 2012, 100% BV tuyến quận, huyện ở TP HCM đã tham gia phối hợp hoạt động với chương trình chống lao tại thành phố. Ngoài ra, 10 bệnh viện thành phố, 4 bệnh viện tuyến trung ương trên địa bàn cũng phối hợp tham gia. Các bệnh viện đã thành lập đơn vị quản lý lao. Người đến khám bệnh hay kiểm tra sức khỏe được lưu ý các triệu chứng nghi lao.
(Theo Báo Đất Việt)

Cách phát hiện bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra không hồi phục hoặc chỉ hồi phục một phần do viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng gây ra. Phát hiện bệnh cần dựa vào triệu chứng của hai thể bệnh.
Thể khí phế thũng: Biểu hiện: người gầy, khó thở là chủ yếu, khó thở trước rồi sau mới ho, ho ít khạc đờm, ít bị nhiễm khuẩn phế quản, phù không rõ, ngực hình thùng, rút lõm cơ ức đòn chũm, phổi rì rào phế nang giảm. Đo thông khí phổi, khí cặn tăng rõ. Khí máu bình thường, chỉ giảm PaO2 nhẹ. Xquang: căng giãn phổi, tim hình giọt nước.
 
Thể viêm phế quản mạn tính: thường gặp ở người béo bệu, tím tái, ho khạc đờm nhiều năm rồi mới khó thở, hay có nhiễm khuẩn phế quản, hay gặp những đợt suy hô hấp, tâm phế mạn xuất hiện sớm: phù mắt cá chân, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, hay kèm theo hội chứng ngừng thở khi ngủ. Xquang: hình ảnh phổi bẩn, bóng tâm thất phải rộng.
 
Đo khí máu: giảm PaO2, tăng hồng cầu và hematocrit. Phòng bệnh: cần bỏ thuốc lá, thuốc lào. Tăng cường chế độ dinh dưỡng: dùng các vitamin A,C, E. Giảm ô nhiễm không khí ở nơi làm việc và nơi sống.

 (Theo Sức khỏe & Đời sống)

Xoa bóp bấm huyệt giảm ho ở người cao tuổi

Qua thực tiễn lâm sàng, chúng tôi xin giới thiệu phương pháp xoa bóp - bấm huyệt nhằm cải thiện triệu chứng ho.

 Theo y học hiện đại: ho là một động tác thở ra mạnh và đột ngột gồm 3 thời kỳ: hít vào sâu và mạnh; thở ra nhanh và mạnh, thanh môn đóng lại áp lực khí cao trong lồng ngực; thanh môn mở ra đột ngột không khí đè ép trong phổi được tống ra ngoài gây phản xạ ho.

 
Theo y học cổ truyền: ho được xếp vào chứng khái thâu (khái: có tiếng ho mà không có đàm, thấu: có tiếng đờm khò khè, cò cử mà không có tiếng ho), do ngoại cảm và nội thương gây nên. Quả thực tiễn lâm sàng, chúng tôi xin giới thiệu phương pháp xoa bóp – bấm huyệt trong cải thiện triệu chứng ho.
Xoa bóp bấm huyệt vùng ngực
Người bệnh nằm ngửa trên giường, toàn thân thở đều và thư giãn, thầy thuốc đứng hoặc ngồi bên cạnh người bệnh, tiến hành xoa bóp:
- Xát - vùng ngực: thường dùng để bôi trơn da với bột talc hoặc với dầu xoa, dùng hai tay áp sát cổ qua 2 bên vai vòng xuống ngực qua đầu vú (nam) theo đường giữa đưa lên cổ, làm khoảng 5 lần.
- Phân vùng hạ sườn: thầy thuốc để 2 tay ôm sát cổ theo đường giữa (xương ức) kéo tay xuống tới mũi kiếm xương ức, hai ngón tay cái phân ra hai bên vùng hạ sườn.
Miết các kẽ sườn: miết từ giữa ngực ra hai bên, các ngón tay miết kẽ sườn 1, 2, 3, miết ra hai bên. Sau đó miết kẽ sườn 4, 5, 6 miết vùng hạ sườn ra 2 bên. Có thể miết từng ngón tay hoặc miết một lúc 3 ngón tay theo kẽ sườn ra 2 bên. Thực hiện động tác này 5 lần.
Bóp cơ ngực: dùng bàn tay bóp nắn cơ ngực hai bên. Thực hiện động tác này 5 lần.
Nhào cơ ngực lớn: dùng 2 bàn tay bóp nâng cơ lên và véo chéo nhau.
Day cơ ngực: dùng gốc bàn tay ấn xuống lực vừa phải day các cơ ở vùng ngực theo vòng tròn.
Day ấn huyệt vùng ngực:
- Đản trung (1): giao điểm của đường giữa ngực và đường nối 2 đầu vú (ở nam), hoặc giao điểm của đường giữa ngực và đường ngang qua liên sườn 4 (ở nữ). Tác dụng trị đau tức ngực, khó thở, ho, hen, hồi hộp, đau vùng trước tim, nấc...
- Nhật nguyệt (2): giao điểm của đường trung đòn và khoang gian sườn 7. Tác dụng trị đau vùng hông sườn, đau vùng gan mật, ho, nôn, nấc...
- Thiên đột (3): chỗ lõm bờ trên xương ức. Tác dụng trị ho, hen, khan tiếng, mất tiếng, nói khó...
- Khuyết bồn (4): chỗ lõm sát bờ trên giữa xương đòn. Tác dụng trị ho, hen, đau ngực...
-Trung phủ (5): giao điểm của khoan liên sườn 2 và đường nách trước. Hoặc lấy ngoài mạch nhâm 6 thốn trong khoang liên sườn 2. Trị ho, hen, đau ngực...
Rung: áp chặt bàn tay vào lồng ngực rung với tần số cao từ trên xương đòn theo cơ ngực lớn đến vùng hạ sườn.
Chú ý mỗi động tác làm từ 5 - 10 lần.
(Theo Sức khỏe & Đời sống)

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Cách chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn đường hô hấp

Chúng ta vẫn quan niệm rằng, mùa đông tiết trời lạnh, trẻ dễ bị viêm đường hô hấp và viêm phổi. Còn mùa hè bệnh này sẽ ít gặp hơn.

Thực ra mùa hè thời tiết nóng ẩm, là điều kiện rất tốt cho vi khuẩn sinh sôi và truyền bệnh. Thêm nữa, mùa hè khi trẻ hoạt động, mồ hôi ra nhiều, nếu không kịp thời thay quần áo, mồ hôi sẽ ngấm ngược, dễ gây viêm đường hô hấp và viêm phổi.
 
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là bệnh thường gặp nhất ở trẻ em, nhất là ở trẻ em dưới 5 tuổi. Người ta ước tính mỗi năm một em bé dưới 5 tuổi có thể mắc phải từ 3 - 8 lần nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. Phần lớn trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sẽ tự khỏi trong vòng 1 tuần khi được chăm sóc đúng cách. Nhưng cũng có đến 1/3 trường hợp, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sẽ diễn tiến thành viêm phổi.

Bệnh viêm phổi ở trẻ nhỏ, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng, thậm chí gây tử vong, vì thế, việc phát hiện sớm trẻ bị viêm phổi là rất quan trọng. Không khó để phát hiện trẻ bị viêm đường hô hấp cấp, viêm phổi, vì các dấu hiệu rất điển hình.
Dấu hiệu đầu tiên và sớm nhất đó là trẻ thở nhanh hơn bình thường. Khi trẻ bị viêm phổi, phổi của trẻ sẽ mất tính mềm mại và không thể giãn nở dễ dàng khi trẻ hít thở mà hậu quả là trẻ có thể bị thiếu ôxy. Vì vậy, trẻ buộc phải thở nhanh hơn dể bù đắp lại sự thiếu hụt này.
Thế nào là thở nhanh?
 
Chúng ta có thể kiểm tra bằng phương pháp rất đơn giản: đếm nhịp thở của trẻ trong trọn 1 phút để xem trẻ có thở nhanh hay không. Gọi là thở nhanh khi: nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên ở trẻ dưới 2 tháng. Từ 50 lần/phút trở lên ở trẻ từ 2 - 11 tháng. Từ 40 lần/phút trở lên ở trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi.
Vì nhịp thở có thể tăng khi trẻ gắng sức (bú, quấy khóc...) nên chúng ta cần phải đếm nhịp thở khi trẻ nằm im, tốt nhất khi ngủ.
Ngoài thở nhanh, những trẻ bị viêm phổi nặng, trẻ nhỏ bị viêm phổi khi thở còn bị co lõm lồng ngực. Trường hợp này chứng tỏ bệnh viêm phổi đã nặng, cần nhập viện ngay để điều trị.
Đặc biệt, nếu trẻ có các dấu hiệu sau đây thì bắt buộc phải đưa trẻ đi cấp cứu càng sớm càng tốt, nếu không tính mạng trẻ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng:
Trẻ dưới 2 tháng: bỏ bú hoặc bú kém, co giật hoặc trẻ ngủ li bì, khó đánh thức trẻ dậy, sốt hoặc lạnh, thở khò khè.
Trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi: trẻ không thể uống được gì cả, co giật hay ngủ li bì, khó đánh thức, thở có tiếng rít, suy dinh dưỡng nặng.
Bệnh viêm phổi, nếu nhẹ có thể điều trị cho trẻ tại nhà. Nhưng khi đó, cần hết sức chú ý tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
Đặc biệt, phụ huynh cần tuân thủ tốt những yêu cầu sau:
 
Cho trẻ uống kháng sinh thích hợp: Đây là điều quan trọng nhất để trẻ có thể khỏi bệnh. Trẻ cần phải được uống kháng sinh thích hợp, đúng cách, đủ liều và đủ thời gian. Khi được thầy thuốc chỉ định, các bậc phụ huynh cần nhận biết đúng dạng thuốc cho trẻ uống, liều lượng mỗi lần uống, số lần uống trong ngày và số ngày cần cho trẻ uống thuốc. 
 
Đối với các loại thuốc viên, cần tán nhỏ viên thuốc trước khi cho trẻ uống (có thể cho vào một ít nước và chờ vài phút, nước sẽ làm viên thuốc bở ra và dễ nghiền nhỏ hơn). Có thể pha thêm một ít đường, hoặc pha với một ít sữa, nước cháo để bé có thể uống dễ dàng hơn. Nếu trẻ ói trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc, cần cho bé uống lại một liều khác.

Điều trị các triệu chứng kèm theo (sốt, khò khè): Tùy trường hợp mà thầy thuốc sẽ cho trẻ các loại thuốc cần thiết khác như thuốc hạ sốt (paracetamol), thuốc điều trị khò khè (salbutamol, trebutaline). Cần cho trẻ uống đúng theo hướng dẫn dù rằng các loại thuốc này cũng khá an toàn cho trẻ em.
Biết cách chăm sóc trẻ tại nhà
- Cần phải tăng cường cho trẻ ăn, bú, tránh các tập quán kiêng ăn. Cần cho trẻ ăn đủ chất, bú đều đặn khi đang bệnh. Khi trẻ vừa khỏi bệnh cũng cần bồi dưỡng thêm cho trẻ mau lại sức. Đối với trẻ nhỏ, khi mũi bị nghẹt, tắc, trẻ sẽ khó bú, khó ăn hơn. Vì vậy cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để trẻ có thể bú, ăn dễ dàng hơn.
- Cần cho trẻ uống nhiều nước hoặc tăng cường cho trẻ bú. Đây là điều rất quan trọng vì trẻ bị viêm phổi cần được cung cấp nhiều nước để làm loãng đờm, dịu họng, giảm ho.
- Riêng đối với vấn đề ho, chúng ta cần lưu ý: khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, ho chính là một phản xạ có lợi để tống đờm dãi ra ngoài, giúp đường thở được thông thoáng để trẻ có thể hít thở dễ dàng. Vì vậy không nên lạm dụng các loại thuốc ho để kìm hãm phản xạ có lợi này của trẻ nhất là khi hiện nay có nhiều loại thuốc ho có thể gây ngộ độc, tác dụng phụ quan trọng ở trẻ em nếu dùng không đúng cách. 
 
Trên thực tế nếu dùng đúng loại kháng sinh thích hợp để trị viêm phổi cũng sẽ giúp trẻ giảm ho nhanh chóng. Chỉ khi nào trẻ ho nhiều dẫn đến những hậu quả xấu cho trẻ như nôn ói, mất ngủ, đau tức ngực, đau rát họng... chúng ta có thể cho trẻ dùng các thuốc ho an toàn (nên hỏi ý kiến bác sĩ). 
Biết được khi nào cần đưa trẻ đến khám lại: bao gồm tái khám theo hẹn và khám lại ngay lập tức khi trẻ trở nặng.
- Tái khám theo hẹn: trẻ cần được bác sĩ khám lại sau 2 ngày để đánh giá xem thuốc kháng sinh trẻ dùng có hiệu quả tốt hay không. Ngay trong trường hợp tốt nhất (trẻ thở trở lại bình thường, hết sốt, ăn, bú khá hơn) trẻ cũng cần phải tiếp tục cho uống kháng sinh đủ thời gian là 5 ngày. Nếu sau 2 ngày tái khám mà trẻ còn thở nhanh, thầy thuốc sẽ cho trẻ dùng một loại kháng sinh cần thiết khác hoặc cho cháu nhập viện điều trị.
- Khám lại ngay: cũng cần lưu ý theo dõi và đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế hoặc bệnh viện nếu thấy trẻ có một trong các dấu hiệu sau: thở khó khăn (thở nhanh hơn, mạnh hơn, thở co lõm lồng ngực), trẻ không bú được, không thể uống được nước, trẻ trở nên mệt hơn. Đây là những dấu hiệu cho biết bệnh của trẻ đã trở nặng, cần nhập viện ngay. 
 (Theo Sức khỏe & Đời sống)