Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Thiếu hụt vitamin D làm gia tăng bệnh hen ở trẻ em

Tạp chí Hen và Miễn dịch lâm sàng trực tuyến của Mỹ đã đăng tải nghiên cứu của các chuyên gia ở Viện y học quốc gia Do Thái (NJH) phát hiện thấy thiếu hụt vitamin D là thủ phạm chính làm gia tăng bệnh hen và tăng chi phí sử dụng thuốc ở trẻ nhỏ. 

Kết luận trên được dựa vào nghiên cứu bệnh án của 100 bệnh nhân hen trẻ em. Theo đó có tới 47% số trẻ này bị thiếu hụt vitamin D. Nhóm người bị thiếu hụt vitamin D có mức IgE trong máu rất cao, đây là chất chỉ thị dị ứng, nhất là dị ứng tại gia đình như dị ứng vật nuôi, bụi bẩn và phấn hoa... 

Ngoài ra, những người có hàm lượng vitamin D thấp còn làm giảm lượng không khí hít vào mỗi giây, hiển thị chức năng làm việc của phổi kém. Chính vì vậy, những người thiếu vitamin D phải sử dụng thuốc steroids dạng hít, dạng viên hoặc chất beta agonist dài kỳ. 

Nghiên cứu trên cho thấy vitamin D vô cùng quan trọng trong việc ngăn ngừa chống viêm nhiễm, giúp bệnh nhân hen cảm thấy dễ chịu, đồng thời làm giảm chi phí sử dụng thuốc chữa hen cho người bệnh. 

Theo Sức khỏe & đời sống

Phòng ngừa bệnh lao ở trẻ em


Bệnh lao gây ra bởi vi trùng KOCH (BK) thông qua lây nhiễm trực tiếp. Trẻ em dễ bị lây lao nên cần phải tiêm phòng bằng vaccin BCG.




Giai đoạn sơ nhiễm


Giai đoạn bị lây bệnh đầu tiên của cháu bé chưa tiêm phòng BK có thể không có triệu chứng gì nổi bật, phải thử nghiệm mới biết được (căn cứ vào kết quả thử nghiệm âm tính hay dương tính). 

Tuy vậy, cũng có trẻ bị sốt, sức khỏe toàn thân suy sụp, xuống cân, gầy ốm… Kết quả chụp Xquang cho thấy có những điểm bất thường ở phổi như sự xuất hiện các hạch ở quanh khí quản và ở phổi. Đối với các cháu mới sinh, bệnh lao màng não là một bệnh cực kỳ nguy hiểm.

Trẻ bị sơ nhiễm lao thường do lây nhiễm từ người nhà hoặc người thường tiếp xúc với cháu. Việc chữa trị cho bé bị sơ nhiễm lao rất đơn giản: cho cháu uống thuốc kháng sinh loại chống lao trong thời gian từ 6 - 9 tháng.

Những phản ứng thử với thuốc thử lao

Phản ứng của cơ thể cháu bé đối với thuốc thử lao cho thấy: cơ thể cháu đã tiếp xúc với vi trùng BK hoặc cháu đã được tiêm vaccin BCG phòng lao rồi. Người ta tiêm vào dưới da các cháu một lượng nhỏ các vi trùng lao (BK) đã chết rồi quan sát trạng thái da ở chỗ tiêm.

Nếu cơ thể không bị nhiễm BK và cháu chưa tiêm phòng vaccin BCG thì không có phản ứng gì ở da: kết quả âm tính.

Nếu cơ thể đã tiếp xúc với BK hoặc đã chích ngừa vaccin BCG thì da có phản ứng: kết quả dương tính.

Có nhiều cách thử nghiệm: làm trầy một diện tích rất nhỏ da của cháu bé rồi nhỏ một giọt thuốc thử lao lên vết trầy; đắp một lớp pommát (thuốc mỡ) thử lao lên da; dùng kim chích tiêm vào dưới da một lượng nhỏ thuốc thử. Cần đưa cháu tái khám đúng hẹn, thường là 2 - 4 ngày sau khi thử. 

Kết quả dương tính thường có các dấu hiệu như: chỗ chích thử có một vùng đỏ bao quanh, dưới da có một cục sờ thấy cứng hoặc quanh chỗ chích có nhiều điểm nhỏ hơi phồng, màu đỏ. Có thể có nhiều dấu hiệu tương tự làm người ta lầm là kết quả dương tính. Bởi vậy, muốn chắc chắn, cần làm nhiều cách thử nghiệm, từng đợt cách nhau một khoảng thời gian.

Kết quả dương tính cho biết đứa trẻ đã tiếp xúc với BK (nếu trước đó, cháu không được tiêm phòng vaccin BCG).

Nếu kết quả dương tính rất rõ rệt thì cháu vừa bị nhiễm BK trong thời gian gần đây. Còn ngược lại, rất khó xác định được thời gian nhiễm bệnh. Bởi vậy, người ta thường thử ít nhất mỗi năm một lần để dự đoán sự tiến triển của bệnh bằng cách so sánh các kết quả với nhau.

3 tháng sau mới kiểm tra kết quả và cháu bé phải có kết quả dương tính. Nếu kết quả âm tính thì việc tiêm ngừa vừa rồi chưa đạt yêu cầu, phải tiêm ngừa lại. Cần chích ngừa vaccin BCG càng sớm càng tốt. Vì vậy, người ta thường chích cho các cháu ngay khi mới sinh.

Tất cả mọi trẻ em đều có thể chích ngừa bệnh lao bằng vaccin BCG, trừ trường hợp đang bị bệnh nào đó hoặc vừa tiêm ngừa một bệnh khác thì phải tạm hoãn lại một thời gian.

Việc chích ngừa vaccin BCG không làm cho cháu bé bị sốt hoặc có phản ứng gì khác ngoại trừ hiện tượng sau vài tuần, chỗ chích có một cái vảy nhỏ, ở dưới vảy có một cục cứng, chung quanh vảy có một vùng đỏ. Nếu chích dưới da ở cánh tay, có thể nổi hạch ở nách. Có trường hợp hạch sưng to, có mủ nhưng thường sẽ khỏi nhanh.

Việc chích vaccin BCG phòng lao đã tỏ ra rất hữu hiệu, kể cả đối với các dạng lao nguy hiểm như lao màng não. Tuy vậy, việc chích phòng phải thực hiện cẩn thận và có quá trình theo dõi về sau.

Ðúng là sau khi đã chích ngừa, nếu kết quả dương tính không rõ rệt chứng tỏ khả năng miễn nhiễm yếu, cần phải chích lại. Thật ra, khả năng miễn nhiễm này cũng yếu đi theo thời gian. Bởi vậy, thường các cháu phải thử lao mỗi năm một lần để thấy nếu cần thì chích ngừa lại.

Thời gian và những nhận xét, theo dõi của mỗi lần chích ngừa cần phải được ghi đầy đủ vào sổ y bạ của các cháu.

Chương trình phòng chống lao Quốc gia

Phụ nữ có thai nên phòng ngừa bệnh cúm


Bà bầu lưu ý, mùa cúm thường bắt đầu vào tháng 10 - 11. Cách tốt nhất để có một baby khỏe mạnh là mẹ phải biết phòng ngừa bệnh cúm.




Tại sao phụ nữ mang thai dễ bị cảm lạnh và cảm cúm?
Hệ thống miễn dịch suy giảm khi phụ nữ bắt đầu mang thai khiến họ dễ bị nhiễm trùng, mắc ho, cảm lạnh và cúm.
Làm sao để giảm nguy cơ bị cảm lạnh hay cảm cúm khi mang thai?
Để phòng ngừa bệnh cúm tốt nhất là chủng ngừa. Mùa cúm thường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11 vì vậy nên tiêm phòng cúm trước đó 3 tháng và trước thời điểm mang bầu 3 tháng.
Không nên tiếp xúc với bệnh nhân đang mắc bệnh viêm đường hố hấp trên. Nếu trong gia đình có người mắc bệnh nên đeo khấu trang hoặc cách ly người bệnh.
Ngoài ra, ăn uống và sinh hoạt lành mạnh để cơ thể tăng cường hệ miễn dịch. Hãy ăn nhiều trái cây tươi và rau quả. Các loại vitamin trong trái cây và rau quả có chứa chất chống oxy hóa, chẳng hạn như vitamin C, giúp chống nhiễm trùng.
Trong giai đoạn bạn mang thai, bác sĩ cũng có thể kê các loại thuốc vitamin và khoáng chất bổ sung đặc biệt dành riêng cho bạn.
Hệ thống miễn dịch cũng sẽ khoẻ hơn khi bạn không hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc và cố gắng giảm stress.
Các loại thuốc cần tránh sử dụng khi mang thai?
Bạn không bao giờ được tự ý mua thuốc điều trị ở các hiệu thuốc mà cần có sự tư vấn của bác sĩ. Nhiều loại thuốc không an toàn cho thai phụ và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi như gây dị tật. 
Có nhiều loại thuốc kháng sinh an toàn cho thai nhi nhưng một số thì không. Hãy nhắc bác sĩ rằng bạn đang mang thai để kê đơn thuốc phù hợp nhất.
Các loại thuốc cần tránh:
Thuốc chống virus như Tamiflu, Flumadine, Relenza, hoặc Symmetrel. Các thuốc này có thể gây khuyết tật bẩm sinh cho thai nhi.
Aspirin có thể gây chảy máu thai nhi. Ibuprofen chưa được nghiên cứu ở phụ nữ mang thai nên tốt nhất là không dùng.
Trong xi-rô thuốc chống cúm, cảm lạnh và ho thường có chất tiêu đờm Guaifenesin và ức chế ho Dextromethorphan. Chúng có liên quan đến các biến chứng khi mang thai trên động vật.
Cách nào điều trị ho và cảm lạnh, cúm an toàn khi đang mang thai?
Đó là sử dụng nước muối pha loãng súc miệng và dùng nước muối biển vệ sinh mũi. Nếu sốt thì hạ sốt bằng biện pháp lau  mát thông thường. Nghỉ ngơi hợp lý và uống nhiều nước để chống cảm lạnh.
Có chế độ ăn uống cân bằng, bao gồm nhiều trái cây tươi và rau quả để cung cấp cho cơ thể các loại vitamin, khoáng chất, carbohydrate, protein và chất béo.
Nếu nghẹt mũi, hãy xông hơi như sau: trùm một chiếc khăn lên đầu, đưa bát nước nóng thêm hai hoặc ba giọt tinh dầu bạch đàn, bạc hà và xông trong 15 phút, bạn sẽ thấy dễ thở hơn.
Uống nước chanh ấm với mật ong sẽ giúp làm dịu đau họng. Ăn các loại thức ăn bổ dưỡng để cơ thể không bị suy kiệt như súp gà, cháo gà ngải cứu, tía tô…
Nếu bạn có các triệu chứng của bệnh cúm, sốt, đau đầu, ớn lạnh, cơ thể đau nhức, mệt mỏi, chán ăn, đặc biệt là nếu bạn bị sốt, để tránh mất nước, hãy uống các loại nước ép trái cây giàu vitamin C như nước cam để tăng cường sức đề kháng.
Theo WMD-EMH

Bị cúm lúc nhỏ, lớn lên ít bị hen suyễn


Đó là kết quả một nghiên cứu mà các nhà khoa học thuộc ĐH Y khoa Harvard (Mỹ) vừa công bố.



Các nhà khoa học thuộc trường ĐH Y khoa Harvard đã thí nghiệm bằng cách tiêm một loại virus cúm A vào những con chuột sơ sinh. 
 
Kết quả cho thấy những con chuột này khi trưởng thành ít bị mắc cúm hay hen suyễn hơn so với chuột trưởng thành không bị cúm khi nhỏ.
 
Phân tích gen của những con chuột thí nghiệm, nhóm nghiên cứu thấy rằng những con chuột trưởng thành được tiêm virus cúm A khi nhỏ có lượng tế bào NKT cao hơn so với những chuột không bị cúm khi nhỏ. Một số tế bào NKT có chức năng điều khiển hệ miễn dịch của cơ thể chống lại những phản ứng quá mức có thể gây ra bệnh dị ứng hay hen suyễn.

Tiến sĩ Dale Umetsu, người đứng đầu nhóm cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng nếu trẻ em được tiêm một lượng nhỏ virus cúm, chúng có thể giảm được nguy cơ bị dị ứng và bệnh hen suyễn khi lớn lên”.

Các nhà khoa học hy vọng nghiên cứu của họ sẽ có cơ sở để phát triển một phương pháp điều trị bệnh hen suyễn mới bằng cách tạo ra những loại dược phẩm bổ sung các tế bào NKT cho những người bị bệnh hen suyễn.
Theo Khoa học & Đời sống

Đừng nhầm viêm xoang với bệnh cảm


Viêm xoang có triệu chứng tương tự bệnh cảm khiến nhiều phụ huynh lầm tưởng. Điều này dễ dẫn đến việc trẻ bị viêm xoang cấp hoặc mãn tính.




Nguyên nhân và triệu chứng
Bệnh viêm xoang ở trẻ nhỏ khó chẩn đoán vì triệu chứng và nguyên nhân không rõ ràng. 

Sau khi sinh, hệ thống miễn dịch của trẻ chưa hoàn chỉnh nên cơ thể có nhiều nguy cơ bị nhiễm trùng, đặc biệt là đường hô hấp. Khi bị viêm đường hô hấp, trẻ ít nhiều đã bị viêm xoang. Nếu tình trạng kéo dài sẽ gây viêm xoang thật sự.

Viêm xoang thường có các triệu chứng tương tự bệnh cảm. Nhiều phụ huynh lầm tưởng nên chỉ điều trị cảm cho trẻ. Điều này dễ dẫn đến viêm xoang cấp hoặc mãn tính. 

Khi trẻ có triệu chứng cảm kéo dài khoảng 10 ngày hoặc kèm theo triệu chứng của cảm cúm, có thể trẻ đã bị viêm xoang, hay các bệnh nhiễm trùng khác như viêm phế quản, viêm phổi... Bạn cần nhanh chóng đưa trẻ đi khám và điều trị.

Bạn cũng có thể dựa vào các triệu chứng để phát hiện bệnh như chảy nước mũi đặc, có màu vàng hơi xanh, đôi khi bị đau họng, ho, thở hôi, buồn nôn hoặc nôn, sốt nhẹ... Đối với trẻ đã lớn (khoảng trên 6 tuổi) còn có cảm giác đau đầu.

Phòng bệnh

Có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh bằng cách giữ vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, giữ ấm cho trẻ những ngày trời lạnh...

Thêm vào đó, bạn cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch cho trẻ. Đặc biệt trong giai đoạn ăn dặm, bạn cần đa dạng nguồn thực phẩm và cho trẻ uống thêm loại sữa có bổ sung đầy đủ dưỡng chất cần thiết như chất béo, đạm, vitamin...
Theo Tiếp thị Gia đình

Hắt hơi báo hiệu điều gì?


Hắt hơi nhiều lần có thể là triệu chứng của bệnh lý ở đường hô hấp trên. Hắt hơi không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nhưng khiến người bệnh khó chịu.




Nguyên nhân hắt hơi
Hắt hơi do dị ứng xuất hiện khi niêm mạc mũi bị tác động bởi các yếu tố như lạnh, các chất kích thích (bụi, mùi hành cay, mùi nước hoa, phấn hoa, mùi thuốc nhuộm vải...). Có người hắt hơi một vài cái rồi thôi, cũng có người hắt hơi liên tục. Triệu chứng sau đó là sốt, sổ mũi, ngạt mũi, ho, khàn tiếng, thậm chí mất tiếng… 
Người có cơ địa viêm mũi dị ứng hay chảy mũi, hắt hơi vào sáng sớm hoặc khi thay đối thời tiết, hắt hơi liên tục, kèm theo nghẹt mũi,
Nhiễm siêu vi và viêm mũi họng đều có chảy mũi hắt hơi nhưng không nhiều, không kéo dài như viêm mũi dị ứng, uống thuốc một đợt bệnh sẽ khỏi hẳn.
Phòng bệnh và điều trị
- Thời tiết lạnh nên giữ ấm cơ thể, tránh bụi khói thuốc lá và các chất kích thích.
- Hạn chế bật quạt máy lạnh khi ngủ.
- Tránh tắm gội vào sáng sớm.
- Trường hợp viêm mũi dị ứng thường không cần dùng thuốc kháng sinh, có thể dùng thuốc chống dị ứng ( loratadin, clopheramin…) và vệ sinh mũi NACL 0.9% hàng ngày, khi có bội nhiễm cần uống một đợt kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ để phòng ngừa biến chứng viêm xoang.
- Việc uống thuốc và xịt thuốc phòng ngừa phải được tư vấn của bác sĩ cho từng trường hợp
Alobacsi

Có thể đột tử vì hen suyễn


Bệnh hen suyễn có khả năng gây đột tử nhưng nếu được điều trị đúng, người bệnh có thể sống an toàn, bình thường như mọi người.




Thầy thuốc cũng là nạn nhân
 
Hen suyễn là bệnh viêm mãn tính thường gặp của đường dẫn khí trong phổi (phế quản). Bệnh  khiến phế quản dễ phản ứng hơn với các yếu tố kích thích và gây ra cơn hen suyễn. Triệu chứng gồm khó thở, thở khò khè, nặng ngực và ho, thường tái lại về đêm và sáng sớm. Nhưng may mắn là có thể điều trị hiệu quả và kiểm soát tốt bệnh, tránh các cơn hen cấp tính dẫn đến tử vong.
 
Đã có những trường hợp tử vong rất đáng tiếc ở những người còn rất trẻ, như học sinh, thậm chí cả thầy thuốc. Có thể do không điều trị đúng, thiếu hiểu biết hoặc do chủ quan. Thậm chí, một nhân viên y tế, đang điều trị nhưng chủ quan khi ăn thức ăn từng bị dị ứng nên lên cơn hen không cứu kịp.
Khi cơn hen bộc phát, người bệnh có thể tử vong nếu không xử trí đúng và kịp thời. Do đó, người bệnh phải được theo dõi sát và đến bệnh viện sớm. Người từng lên cơn hen suýt tử vong, hoặc từng phải thở máy do hen suyễn; đang hoặc vừa mới ngưng thuốc có corticosteroid như Prednison, Medrol, Asmacort sẽ có nguy cơ cao hơn.
Những người sử dụng thuốc cắt cơn thường xuyên, đặc biệt là dùng hơn một hộp Ventolin® (hoặc các thuốc tương tự) trong một tháng cũng nằm trong xác suất dễ tử vong.
Không nên tự ý dùng thuốc
Khi bị hen suyễn phải dùng thuốc điều trị đúng. Tránh các yếu tố làm khởi phát cơn hen. Theo dõi bệnh và biết khi nào cần đến bác sĩ. Một số yếu tố phát cơn hen như phấn hoa, mốc, mạt nhà, lông thú vật, côn trùng, cảm cúm, thức ăn… Nếu bị dị ứng một loại thức ăn nào đó thì tuyệt đối không dùng đến.
Khi điều trị, bệnh nhân không nên tự ý dùng thuốc, nhất là với thuốc có chứa corticosteroid. Thường là dạng thuốc chích như Kcort hay Kenacort, thuốc tễ, thuốc “hạt dưa”... Dù cắt cơn hen nhưng lại giữ nước trong cơ thể, tăng thèm ăn, ức chế tuyến thượng thận, giảm khả năng chống nhiễm trùng, đục thủy tinh thể, rậm lông, loãng xương, đái tháo đường...
Nhiều bệnh nhân không biết tác dụng phụ của thuốc và giá cũng rất rẻ nên thường lạm dụng. Có người khoe mỗi tháng chỉ cần chích một mũi thuốc là “khỏe” 4 - 5 tháng nhưng tới khi thấy mập lên bất thường, da mỏng và dễ bầm máu mới hoảng hồn đến bác sĩ.
Hiện trị hen có 2 loại: thuốc cắt cơn (thuốc giãn phế quản) sử dụng lên cơn hen, như Ventolin, Bricanyl, Berodual. Còn thuốc ngừa (thuốc kháng viêm) dùng hàng ngày để phòng ngừa cơn hen suyễn và bảo vệ chức năng phổi. Vì là dạng thuốc hít nên thường chỉ tác dụng tại chỗ.
Có người ngày nào cũng lên cơn hen và dùng liên tục thuốc cắt cơn như Ventolin hay Berodual. Hiện có nhiều tiến bộ trong điều trị hen, do đó, việc ngày nào cũng dùng đến thuốc cắt cơn là chuyện không bình thường và cần khám lại.
Theo Sài gòn tiếp thị