Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

Xoa bóp chữa viêm mũi mạn tính


Vị trí huyệt
Nghinh hương: Cạnh cánh mũi, trên rãnh mũi má, cách cánh mũi 0,5 tấc.
Tị thông: Nằm sát phía bên trên hai cánh mũi.
Ấn đường: Tại điểm giữa hai đường nối đầu trong lông mày.
Thái dương:Chỗ lõm giao điểm của đuôi mắt với khóe ngoài mắt.
Phong trì:  Tại bờ xương chẩm, chỗ lõm sau tai.
Hợp cốc: Khép ngón trỏ và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón trỏ ngón cái.
Viêm mũi mạn tính là một bệnh rất phổ biến ở nước ta. Bệnh tuy không nguy hiểm nhưng nếu không được điều trị có thể gây nhiều chứng bệnh khác như hen phế quản, viêm phổi, viêm phế quản cấp và mạn tính...
Bệnh viêm mũi mạn tính chia làm 3 dạng:
Giai đoạn xung huyết đơn thuần: Ngạt mũi liên tục cả đêm lẫn ngày, xuất tiết ít, khám niêm mạc mũi cuốn mũi to, đỏ, đôi khi tím.
Giai đoạn xuất tiết: Chảy nước mũi là dấu hiệu đặc trưng, nhầy hoặc mủ, chảy hàng tháng, ngạt mũi thường xuyên, giảm hoặc mất khứu giác. Niêm mạc mũi phù nề nhợt nhạt, cuốn mũi nề mọng. Sàn mũi và các khe có chất xuất tiết ứ đọng.
Giai đoạn quá phát: Niêm mạc cuốn dưới quá sản, tắc mũi liên tục, ngày càng tăng, người bệnh nói giọng mũi kín, thở bằng miệng nên thường kèm viêm họng mạn tính, giảm hoặc mất khứu giác, nước mũi chảy ít dần, cuốn mũi dưới quá phát gần sát vách ngăn, cứng sần sùi, màu xám nhạt.
Theo Đông y, viêm mũi mạn tính thuộc phạm vi chứng tỵ trất, do nhiều nguyên nhân gây nên như phế khí hư yếu, tỳ khí suy nhược... khiến cho hàn tà xâm nhập, gây trở ngại tỵ khiếu lạc mạch mà tạo thành bệnh. Đối với trường hợp viêm mũi mạn tính dạng xung huyết đơn thuần, Đông y có rất nhiều biện pháp như châm cứu bấm huyệt, thuốc uống, xông... trong đó xoa bóp bấm huyệt là một phương pháp đơn giản, người bệnh có thể tự thực hiện. Sau đây xin giới thiệu các huyệt vị cần day bấm để chữa viêm mũi:
Day bấm huyệt nghinh hương: Dùng đầu ngón tay giữa day bấm vào huyệt nghinh hương ở hai bên lỗ mũi trong 1 – 2 phút, khi thấy cay cay sống mũi là được.
Day bấm huyệt tỉ thông: Dùng đầu ngón trỏ day ấn huyệt tỉ thông trong 1 – 2 phút.
Day bấm huyệt ấn đường: Dùng ngón cái day ấn huyệt ấn đường trong 1 – 2 phút.
Dùng ngón trỏ và ngón cái ấn véo hai bên sống mũi (gần khóe mắt) khoảng 1 – 2 phút, cảm giác tại chỗ hơi đau là được.
Dùng gồ ngón tay cái day hai bên sống mũi tới huyệt nghinh hương, day đi day lại khoảng 1 phút, thấy ấm nóng tại chỗ là được.
Day ấn huyệt phong trì: Dùng ngón tay cái hai tay day ấn huyệt phong trì mỗi bên 1 – 2 phút.
Xát thái dương: Hai bàn tay đặt vào hai bên má, xát nhanh tới huyệt thái dương. Lặp lại trong 2 phút.
Véo huyệt hợp cốc: Dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa nắm véo huyệt hợp cốc mỗi bên 5 – 10 lần.
Lưu ý: - Tránh bị nhiễm lạnh, nên tiêm vaccin phòng bệnh cúm. Đeo khẩu trang khi ra ngoài trời và khi phải tiếp xúc với người bị ho hoặc hắt hơi. Tránh khói bụi và thuốc lá, cần có chế độ phòng hộ khi làm việc ở các nhà máy hóa chất.
- Nên ăn uống đủ chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng cho cơ thể, tránh dùng các chất kích thích, gia vị cay nóng.
- Điều trị sớm khi bị cảm cúm, viêm mũi,  xoang, vẹo vách ngăn mũi. Đối với trường hợp viêm mũi mạn tính dạng xuất tiết và quá phát cần kết hợp dùng thuốc theo y học hiện đại.
  Lương y  Đình Thuấn

Mắc bệnh nan y vì... viêm lợi

Bấy lâu nay, người ta vẫn coi thường căn bệnh viêm lợi vì cho rằng đó là bệnh thường gặp, chẳng ảnh hưởng gì nhiều tới sức khỏe. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, viêm lợi có thể là khởi nguồn dẫn đến một loạt các căn bệnh nan y nguy hiểm khác như đau tim, đột quỵ, viêm tắc thành mạch, viêm phổi, tiểu đường, thiểu năng não, thậm chí cả ung thư!
Không thể coi thường các bệnh về lợi - đó là khẳng định của nhiều bác sĩ và nha sĩ giàu kinh nghiệm. Các nghiên cứu được tiến hành trong vòng 5 năm gần đây đã chỉ ra rằng, sự viêm nhiễm phần miệng cũng có thể làm gia tăng rủi ro cho những người chuẩn bị lên bàn phẫu thuật như ghép thận, thay van tim. Bởi, “vi khuẩn ở các ổ viêm lợi hoàn toàn có thể theo máu đi tới các bộ phận khác của cơ thể để gây tai họa, phá hỏng hiệu quả của các ca phẫu thuật, khiến các vết thương phẫu thuật lâu liền...” - TS. Salomon Amar - tiến sĩ nha khoa thuộc ĐH Boston (Mỹ) lý giải. Theo khảo cứu của nhóm bác sĩ Đại học Boston thì có khoảng 20% các ca ghép tạng không thành công có liên quan đến virut Cytomegalia, mà ổ của virut này là viêm lợi mạn tính. Chính vì thế, nhóm nghiên cứu đã lưu ý các bác sĩ rằng, trước khi tiến hành ghép tạng cần yêu cầu bệnh nhân đi khám nha khoa và điều trị dứt điểm viêm lợi nếu có.
Trong một diễn biến khác, tạp chí Journal of Periodontology mới đây vừa công bố 2 nghiên cứu độc lập của các nhà khoa học thuộc Đại học Nam California (Mỹ) cho thấy: đã phát hiện các vi khuẩn gây viêm lợi nằm trong động mạch của những bệnh nhân đau tim và trong nhau thai ở những phụ nữ bị huyết áp cao lúc mang thai. Ngoài ra, các khảo cứu tại Italia vài năm trước đây và tại Chile gần đây còn chỉ ra rằng: ở những người bị bệnh tiểu đường nếu có mắc thêm viêm lợi mạn tính thì rất khó chữa trị tiểu đường. Các chỉ số đường huyết gần như không đáp ứng với phác đồ điều trị. Và chỉ khi bệnh viêm lợi được điều trị dứt điểm thì bệnh tiểu đường mới thấy thuyên giảm.
 Cần lấy cao răng ít nhất 6 tháng một lần để phòng viêm lợi.
Ngọn nguồn của nhiều bệnh
Theo số liệu của TS. Salomon Amar, có tới 50 - 70% người dân Mỹ bị viêm lợi mạn tính. Trong số đó, khoảng trên 10% bị viêm lợi ở mức độ nghiêm trọng, làm thay đổi các cấu trúc của lợi. Tuy nhiên, mọi người thường coi nhẹ và bỏ qua căn bệnh này. “Ngoài việc thường thấy hiện tượng chảy máu chân răng, viêm lợi không gây đau đớn, ít khi có những biểu hiện khác và không đe dọa tính mạng con người. Chính vì thế, nó không được coi là một bệnh có tác động tiêu cực tới sức khỏe - đó là một sai lầm của y học” - TS. Amar phát biểu. Ngày nay, nhiều nhà khoa học đã phải thừa nhận rằng, viêm lợi mạn tính có tác động khá lớn, có thể làm tổn thương các bộ phận khác của cơ thể và gây ra nhiều bệnh nan y nguy hiểm.
Các khảo cứu tiến hành tại Anh với sự tham gia của nhiều nhóm bệnh nhân còn cho thấy, những người bị viêm lợi mạn tính thường xuyên bị bệnh tim mạch hơn 68% so với những người không bị viêm lợi. Nguyên nhân được xác định là những chất xuất tiết từ vi khuẩn viêm lợi đã nhiễm vào đường máu, gây tắc động mạch và huyết khối, dẫn đến đau tim và đột quỵ. Theo các nhà khảo cứu, các độc tố từ viêm nhiễm lợi - ngoài ảnh hưởng tiêu cực tới thành mạch, còn có thể vào gan qua đường lưu thông máu, khiến gan giải phóng loại protein creactiv, mà đây là tác nhân gây lên tình trạng viêm động mạch.
Vì sao viêm lợi dẫn đến các bệnh nan y nguy hiểm? Đó là do các vi khuẩn xuất phát từ viêm lợi đã giải phóng độc tố, khiến hệ miễn dịch của cơ thể đối phó bằng cách tiết ra hợp chất cytokina. Hàm lượng cytokina quá cao trong cơ thể sẽ làm gia tăng khả năng viêm nhiễm và làm tổn thương các mô trong toàn bộ cơ thể. Hiện tượng này, cho đến nay - được coi là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại bệnh, trong đó có bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, thiểu năng não, một số bệnh ung thư... và các rắc rối khi mang thai ở phụ nữ. “Viêm lợi mạn tính là ngọn nguồn sinh ra những hợp chất gây tổn thương các mô” - ông Preston D.Miller, Chủ tịch Viện Nha khoa Mỹ khẳng định.
Để phòng ngừa có hiệu quả bệnh viêm lợi, các bác sĩ Viện Răng hàm mặt Ba Lan khuyên rằng: Cần đánh răng thường xuyên với thuốc đánh răng ít nhất 2 lần/ngày. Nên thường xuyên bổ sung nguồn vitamin C và PP vì 2 loại vitamin này có tác dụng quan trọng trong việc ngăn ngừa viêm lợi. Cứ 6 tháng một lần, nên đến nha sĩ để lấy cao răng.

Minh Giang(Theo The Family doctor)

Tránh lạm dụng kháng sinh khi viêm họng

Có đến 70% số người phàn nàn vì đau họng được khuyên dùng kháng sinh, mặc dù chỉ 5-15% người lớn mới thực sự cần đến thuốc. Đáng nói là hầu hết bệnh viêm họng do virus gây ra và thuốc kháng sinh không mấy tác dụng trong những trường hợp này, trong khi có nhiều cách đơn giản và tự nhiên để điều trị đau rát họng. 

Khi nào cần thuốc?
Hiệp hội Các bệnh truyền nhiễm Mỹ (IDSA) giữa tháng9-2012 cho biết, khoảng 15 triệu người ở Mỹ đến gặp bác sỹ vì bệnh viêm họng mỗi năm và có tới 70% trong số họ được kê dùng thuốc kháng sinh. Mặc dù vậy, thực tế số người bị viêm họng do liên cầu khuẩn chiếm tỉ lệ nhỏ hơn rất nhiều: khoảng 20-30% trẻ em và 5-15% người lớn.

IDSA khuyến cáo, mọi người chỉ nên dùng thuốc kháng sinh nếu bị viêm họng liên cầu khuẩn (do vi khuẩn streptococcus gây ra) và điều này cần phải được chẩn đoán, xét nghiệm cụ thể. Theo đó, những người có xét nghiệm dương tính với liên cầu khuẩn cần phải được chữa trị bằng thuốc penicillin hoặc amoxicillin nếu cần thiết. Cần tránh sử dụng các thuốc kháng sinh azithromycin và cephalosporin trong trường hợp này vì vi khuẩn streptococcus đang ngày càng có khả năng kháng thuốc. 

Tuy nhiên, làm thế nào để phân biệt viêm họng do virus hay do liên cầu khuẩn? Những dấu hiệu cho thấy viêm họng do virus là ho, chảy nước mũi, khàn giọng hoặc loét miệng… Trong khi đó, viêm họng nhiều khả năng do liên cầu khuẩn streptococcus gây ra nếu cơn đau xuất hiện đột ngột kèm cảm giác đau khi nuốt và người bệnh bị sốt mà không có các triệu chứng của cảm cúm thông thường. 

Trẻ em dưới 3 tuổi thường không bị viêm họng do liên cầu khuẩn streptococcus. Các chuyên gia y tế Hoa Kỳ cũng đề xuất không nên cắt amiđan cho trẻ em hay bị viêm họng, ngoại trừ những trường hợp vô cùng đặc biệt, ví dụ như đứa trẻ bị nghẽn đường thở, vì việc phẫu thuật chứa đựng nhiều rủi ro hơn là ích lợi.

Giải pháp tự nhiên
Không khí khô, thời tiết chuyển mùa có thể gây viêm họng nhưng nhiều “bài thuốc” có thể tìm thấy trong chính tủ bếp nhà bạn. Dưới đây là 3 cách để đối phó nếu cổ họng có cảm giác đau:

Làm dịu kích ứng: Giải pháp khắc phục hàng đầu là một thìa mật ong pha vào nước ấm với chanh. Nó giống như “khoác áo” cho chiếc họng bởi tác dụng làm dịu các kích ứng ở cổ. Một số thảo dược truyền thống khác cũng có tác dụng chống viêm.

Rửa sạch họng. Súc miệng bằng nước muối rất hiệu quả trong việc cắt giảm viêm họng, khi mà tác nhân chủ yếu do không khí khô hoặc dị ứng. 

Ngăn chặn tái phát. Phòng ngừa là liều thuốc tốt nhất cho bệnh viêm họng do kích thích hoặc nhiễm virus. Ví dụ, nếu bạn thấy cổ họng đau vào buổi sáng, nguyên nhân có thể bạn thở qua đường miệng ban đêm hoặc do trào ngược acid trong khi ngủ. Cách khắc phục là tạo thêm độ ẩm không khí trong phòng ngủ hoặc gối đầu lên hơi cao để có thể ngăn ngừa bệnh viêm họng do trào ngược. 

Tóm lại, dù bạn làm gì cũng đừng bỏ qua triệu chứng đau họng kéo dài hơn 1 tuần hoặc đau nhức đến khó nuốt, vì đó có thể là một dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn. Ngoài ra, một lời khuyên khác là bất kỳ người hút thuốc lá nào bị đau họng dai dẳng cũng cần đến gặp bác sĩ.
 
Theo An ninh Thủ đô /Foxnews/Prevention

Nguy cơ trẻ mắc hen suyễn do mẹ thừa cân

 Một nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển cho biết: Thai phụ bị béo phì sinh con dễ mắc bệnh hen suyễn hơn so với người mẹ có cân nặng bình thường. Thử nghiệm trên 129.000 người mẹ sống tại thủ đô Stockholm và 189.000 đứa con của họ phát hiện, những người mẹ béo phì hoặc có chỉ số cơ thể BMI ở mức >35 thì những đứa con của họ có nguy cơ phát triển bệnh hen suyễn chiếm tỉ lệ 61% vào giữa giai đoạn trẻ từ 8 - 10 tuổi.
Tác giả nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu trẻ em Murdoch và Trường ĐH Melbourne (Úc), ông Adrian Lowe nhận định: Có sự gia tăng rõ rệt giữa nguy cơ mắc bệnh hen suyễn ở trẻ nhỏ, việc uống thuốc và thời gian nằm viện cùng mức độ gia tăng của bệnh béo phì và thừa cân ở người mẹ vào giai đoạn đầu của thai kỳ. Cũng theo ông Lowe: Mẹ béo phì gia tăng đứa con cũng có nguy cơ bị béo phì, điều này ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và có liên quan đến dị ứng. Vì thế, những chiến dịch chống béo phì, thừa cân là nhận thức đầu tiên có những tác động hữu hiệu đối với bệnh hen suyễn ở trẻ nhỏ.
Hoàng Yến (Theo Healthnews)

Những quan niệm không đúng về bệnh cúm

Cúm và cảm lạnh rất dễ xảy ra dưới tác động của nhiều yếu tố như: thời tiết thay đổi, sự tấn công của virut, sự lây nhiễm từ những người bệnh khác… Việc phòng ngừa và ngăn chặn cúm, cảm lạnh cũng như hạn chế các triệu chứng là việc cấp thiết, song đôi khi chúng ta lại rất dễ mắc sai lầm.
Kiêng sữa khi bị cảm cúm
Không ít người cho rằng nên kiêng uống sữa và ăn các sản phẩm từ sữa khi bị cảm cúm, bởi sữa giàu protein sẽ kích thích sản sinh ra nhiều dịch nhờn. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng các sản phẩm từ sữa không kích thích sản sinh chất nhờn trong cơ thể, thậm chí sữa còn giúp làm dịu và giảm bớt các cơn ho do cảm lạnh. Ngoài ra, cần bổ sung thêm sữa để cung cấp năng lượng, tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.
 Tiêm phòng cúm không giúp phòng được mọi loại virut cúm.
Cúm do ăn các thực phẩm từ lợn?
Khi chủng cúm H1N1 được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2009, nó được gọi là cúm lợn bởi virut cúm được phát hiện trên loài lợn. Rất nhiều người nghĩ rằng họ đã bị mắc cúm từ lợn, bởi vậy, họ ngừng ăn các sản phẩm từ thịt lợn để tránh bị mắc cúm. Đã có thời tại một số quốc gia trên thế giới, người nông dân điêu đứng vì thịt lợn bị tẩy chay do cúm lợn. Tuy nhiên, H1N1 chỉ đơn giản là một trong số rất nhiều loại virut cúm và cơ chế lây cúm lợn cũng giống như các loại virut cúm khác, đó là thông qua đường hô hấp. Việc cách ly lợn, không ăn thịt lợn chỉ giúp ngừa được một loại virut H1N1 mà thôi. Thậm chí nếu thịt lợn được chế biến cẩn thận và nấu chín kỹ thì bạn cũng khó có thể mắc cúm.
Tiêm phòng cúm giúp phòng mọi loại virut cúm
Tiêm phòng cúm là một trong những cách hạn chế cúm, song không phải là cách ngăn chặn cúm tuyệt đối. Việc tiêm phòng cúm chỉ đơn giản là tiêm vào cơ thể một loại virut cúm đã bị làm yếu hoặc đã bị tiêu diệt không có khả năng gây bệnh, nhưng hệ miễn dịch của chúng ta có thể nhận biết chúng và hoạt động hiệu quả hơn khi gặp phải virut cúm đó. Tuy nhiên, nếu tiêm phòng cúm, bạn vẫn có thể bị mắc cúm do bị nhiễm nhiều loại virut cúm khác. Hiện Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ đã phát minh ra một loại vaccin phòng cúm mới với tên gọi flumist. Loại vaccin này có mang chủng virut cúm còn sống và điều này mang lại hi vọng phòng cúm hiệu quả hơn so với các loại vaccin khác. Tuy nhiên, flumist vẫn cần thời gian để được kiểm chứng.
 Lá tía tô dùng xông hơi chữa bệnh cảm cúm.
Cảm cúm cần điều trị bằng kháng sinh
Thông thường, kháng sinh được dùng để điều trị phần lớn các bệnh, chủ yếu là các chứng nhiễm khuẩn. Nhiều người nhầm lẫn khi sử dụng kháng sinh để điều trị cúm và cảm lạnh, trong khi đó, cảm cúm và cảm lạnh phần lớn là do virut gây ra. Bởi vậy, người bị mắc cúm hoặc cảm lạnh không cần phải dùng đến kháng sinh. Các bác sĩ chỉ kê đơn thuốc kháng sinh cho người bị nhiễm cúm hoặc cảm lạnh khi họ bị mắc kèm các triệu chứng như viêm họng, viêm phổi, viêm xoang hoặc nhiễm trùng tai…
Cúm có nghĩa là hệ miễn dịch đang bị suy yếu
Không ít người nghĩ rằng mắc cúm là do hệ miễn dịch của chúng ta bị suy yếu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp khỏe mạnh cũng bị mắc cúm. Đơn giản chỉ vì họ đã bị nhiễm virut cúm và điều này không liên quan gì đến việc hệ miễn dịch khỏe hay yếu. Việc nhiễm virut cúm chủ yếu qua đường hô hấp, qua mắt, mũi, miệng hay những khu vực bị viêm nhiễm… Khi hệ miễn dịch yếu, quá trình phát bệnh diễn ra nhanh hơn.
 Cúm có nghĩa là hệ miễn dịch đang bị suy yếu do bị virut cúm tấn công.
Virut cúm chỉ lây qua đường không khí
Mặc dù virut cúm chủ yếu lây lan qua đường không khí, do hít phải không khí có virut cúm hoặc tiếp xúc với người bị mắc cúm... Tuy nhiên, đôi khi việc nhiễm virut cúm cũng rất đơn giản, bạn chạm phải đồ vật mà trên bề mặt có nhiễm khuẩn hoặc những nơi công cộng mà nhiều người thường chạm tới chẳng hạn như mặt bàn, điện thoại công cộng, bàn phím máy tính… Virut gây bệnh có thể bám từ tay bạn và nhiễm vào mắt, mũi, miệng…
Trong mùa cúm, chỉ mắc cúm một lần
Không ít người nghĩ rằng: trong mùa cúm, nếu đã bị nhiễm cúm một lần thì cơ thể sẽ miễn dịch với cúm và sẽ không bị mắc lại nữa. Không may là điều này không là đúng bởi cúm có rất nhiều chủng loại khác nhau. Nếu trong mùa cúm, bạn đã bị nhiễm loại cúm này thì bạn vẫn có thể bị nhiễm lại một loại cúm khác hoặc chính loại virut cúm lần trước nếu hệ miễn dịch của bạn không tốt.

       Minh Ngọc (Theo MSNBC)

Bỗng dưng muốn... ngáp

Hãy thử để ý một lần trong lớp học, trong phòng hội họp, nếu bạn vô tình ngáp một cái thì sẽ có bao nhiêu người ngáp theo bạn. Trước khi bạn đọc hết bài viết này, bạn cũng sẽ... ngáp ít nhất một lần.
Không phải bài viết này cố ý gây nhàm chán cho bạn nhưng sự thật là đọc những câu chuyện viết về ngáp sẽ khiến cho bạn... ngáp. Cũng như khi bạn nghe hoặc thấy người ta ngáp, bạn cũng sẽ ngáp theo.
Vì sao chúng ta ngáp?
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thiết về nguyên nhân gây ngáp và có 3 giả thuyết được xem là phổ biến nhất.
Giả thuyết thứ nhất là thuyết sinh lý học theo đó cơ thể chúng ta ngáp để lấy thêm oxygen (O2) và thải ra bớt khí carbonic (carbon dioxide - CO2). Giả thuyết này cũng giải thích hiện tượng tại sao người ta ngáp trong nhóm đông người như hội họp, hội nghị, rạp hát... Vì trong phòng càng đông người thì sự tích lũy khí carbonic càng nhiều. Vì vậy người ta phải ngáp để đuổi ra khỏi cơ thể khí carbonic đồng thời lấy vào thêm mức oxygen. Giả thuyết kế theo là thuyết tiến hóa. Tổ tiên chúng ta ngáp nhằm để... khoe răng với mục đích dọa nạt kẻ thù… Giả thuyết cuối cùng là thuyết... chán nản: ngáp xảy ra khi người ta chán nản một điều gì đó.
Vai trò của sự ngáp
Ngáp sẽ giúp làm giãn phổi và các mô chung quanh nhằm ngăn chận sự “kẹt đường” của những ống khí nhỏ trong phổi. Điều này giải thích vì sao ngáp thường xảy ra vào thời điểm mà người ta có sự hít thở nông, chẳng hạn như khi mệt mỏi, hoặc khi vừa mới thức dậy.
Ngáp cũng sẽ cung cấp cho phổi một hóa chất gọi là surfactant. Đây là một chất lỏng bôi trơn được bao phủ trong những túi khí nhỏ trong phổi giúp những túi này rộng mở để lấy không khí. Surfactan rất quan trọng cho một đứa bé vừa lọt lòng mẹ có thể sống được khi bắt đầu cuộc sống mới ở bên ngoài môi trường tử cung. Điều này cũng giải thích vì sao bào thai ngáp trong quá trình phát triển. Đó là vì bào thai đang chuẩn bị để sử dụng phổi của chúng.
Do ngáp làm giãn các cơ, các khớp, làm tăng nhịp tim cho nên ngáp sẽ làm tăng sự tỉnh táo. Ngáp cũng là một dấu hiệu giúp người ta biết rằng cơn buồn ngủ sẽ ập đến. Vì vậy, cánh tài xế đường dài phải mau mau tìm một trạm dừng nào đó nghỉ ngơi chốc lát, bởi nếu không thì những tai nạn kinh hoàng sẽ là điều khó tránh.
Một điều lạ và thú vị là ngáp có thể... lây. Một người ngáp thì nhiều người khác sẽ ngáp theo. Nếu bạn xem một cảnh thấy ai đó ngáp, bạn cũng sẽ ngáp.
Ngáp bất thường là dấu hiệu bệnh?
Ngáp nhiều là một dấu hiệu của một hoặc nhiều chứng bệnh nào đó. Những người ngáp quá nhiều có thể bị “dính” các chứng như đa xơ (multiple sclerosis), bệnh Lou Gehrig (bệnh thoái hóa các thần kinh vận động của cột sống), bị nhiễm phóng xạ (cũng như trong quá trình điều trị bằng phóng xạ), bệnh Parkinson... Trong khi đó ngáp ít hơn bình thường lại xảy ra trên những người bị chứng tâm thần phân liệt. Nguyên nhân tại sao ngáp nhiều hơn hoặc ngáp ít hơn trong một số chứng bệnh thì vẫn chưa được biết rõ.
Nhiều thí nghiệm được tiến hành trên động vật và người cho thấy nếu kích thích điện ở một số vùng trong não thì sẽ kích thích sự ngáp. Một vài hóa chất trong não như dopamine và ACTH cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc ngáp.
Hãy nhanh chân gõ cửa phòng mạch bác sĩ nếu bạn bỗng dưng ngáp liên tục và ngáp nhiều hơn bình thường, hoặc nếu ngáp nhiều kèm theo sự buồn ngủ dù là ban ngày.
DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG
(Khoa Dược – ĐH murdoch – Úc)

Cơ hội điều trị hiệu quả cho bệnh nhân bị chít hẹp khí - phế quản

Vừa qua, tại Bệnh viện Quân đội 103, các bác sĩ Khoa Lao và bệnh phổi đã thực hiện thành công kỹ thuật đặt giá đỡ (đặt stent) khí phế quản cho một bệnh nhân hẹp khí quản. Đây là bệnh viện đầu tiên trong quân đội thực hiện thành công kỹ thuật này với chính nhân lực và trang bị hiện có.
Kỹ thuật đặt giá đỡ (còn gọi là đặt stent) khí phế quản là kỹ thuật tiên tiến để điều trị các trường hợp hẹp khí - phế quản do các nguyên nhân. Đây là một kỹ thuật cao trong chuyên ngành hô hấp, không những đòi hỏi trình độ chuyên môn cao của đội ngũ y, bác sĩ mà còn phải có nhiều trang thiết bị y tế phức tạp và đồng bộ.
 
 Các thầy thuốc thăm khám cho bệnh nhân sau khi đặt stent khí quản.
Từ năm 2004, tại Khoa Lao và bệnh phổi - Bệnh viện 103 đã tiến hành kỹ thuật nội soi can thiệp và đặt giá đỡ phế quản cho một bệnh nhân hẹp phế quản do ung thư với sự hỗ trợ của chuyên gia người Pháp và sự phối hợp của các chuyên gia một số bệnh viện trong nước. Hiện tại, một số bệnh viện lớn trong nước như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Bạch Mai đã bước đầu triển khai thực hiện kỹ thuật này.
 
Sau một thời gian chuẩn bị về chuyên môn và trang bị, ngày 14/2/2012, Khoa Lao và bệnh phổi - Bệnh viện 103 đã thực hiện thành công kỹ thuật đặt giá đỡ cho bệnh nhân hẹp khí quản. Đây là bệnh viện đầu tiên trong quân đội thực hiện thành công kĩ thuật này với chính nhân lực và trang bị hiện có. Bệnh nhân được thực hiện kỹ thuật là Lưu Viết Hợp (sinh năm 1989, quê xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội), có tiền sử chấn thương sọ não, hôn mê phải đặt nội khí quản thông khí nhân tạo.
 
 Hình ảnh hẹp khí quản trước đặt stent. - Hình ảnh nội soi khí quản sau đặt stent.
Sau đặt nội khí quản, bệnh nhân bị hẹp khí quản do sơ sẹo. Bệnh nhân thường xuyên có biểu hiện thở rít, khó thở, mệt, sức khỏe giảm sút nhanh, dễ bị nhiễm khuẩn đường thở, thường xuyên phải ngồi để thở. Khi nhập viện, bệnh nhân có biểu hiện của suy hô hấp, làm các xét nghiệm nội soi và chụp cắt lớp vi tính thấy 1/3 trên của khí quản hẹp đồng tâm, mức độ hẹp chiếm 2/3 đường kính khí quản, đoạn hẹp dài khoảng 1,5cm, chỗ hẹp viêm nhiễm, tăng tiết dịch nhày.
 
Sau khi thăm khám, làm các xét nghiệm, các bác sĩ của Khoa Lao và bệnh phổi cùng các khoa liên quan: Hồi sức, Gây mê đã quyết định tiến hành nội soi phế quản, nong và đặt giá đỡ silicon phế quản. Ngày 15/2/2012, kỹ thuật đã được thực hiện cho bệnh nhân Hợp. Kíp kỹ thuật do các chuyên gia về hô hấp như: PGS.TS. Đỗ Quyết - Phó Giám đốc; PGS.TS. Nguyễn Huy Lực - Chủ nhiệm Bộ môn Khoa Lao và bệnh phổi; PGS.TS. Tạ Bá Thắng - Phó Chủ nhiệm khoa cùng các tiến sĩ, bác sĩ của Khoa Lao và bệnh phổi và Khoa Gây mê trực tiếp thực hiện. Trong quá trình tiến hành kỹ thuật, tình trạng bệnh nhân ổn định.
 
Sau 1 tuần điều trị, bệnh nhân hết tình trạng khó thở, sinh hoạt bình thường và xuất viện. Việc tự đảm đương thực hiện kỹ thuật đặt giá đỡ khí - phế quản thành công tại Bệnh viện Quân đội 103 đã tạo cơ hội điều trị hiệu quả cho những người bệnh bị chít hẹp khí - phế quản do nhiều nguyên nhân (lành tính và ác tính) như các di chứng của các bệnh (ung thư, lao, dị vật, sau đặt nội khí quản, mở khí quản lâu ngày…). Sắp tới, Khoa Lao và bệnh phổi - Bệnh viện 103 sẽ có kế hoạch triển khai nhiều kỹ thuật nội soi phế quản, nội soi lồng ngực can thiệp để điều trị các bệnh hô hấp khác.